Chương 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về du lịch đêm và dịch vụ đêm phục vụ khách du lịch 1. Du lịch đêm Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về DLĐ với các quan điểm khác nhau, chủ yêu tập trung vào các quan điểm nghiên cứu chính như sau: * Nghiên cứu về Du lịch đêm như là một phan của hoạt động kinh tế đêm Thuật ngữ “kinh tế ban đêm” hay “kinh tế đêm” (night-time economy) xuất hiện đầu tiên vào cuối những năm 1970 đầu những năm 1980 và nó được coi như một phan của chiến lược phục hồi đô thị ở các thành phố lớn của Anh.
Ké từ đó, tại các thành phó lớn ở nước Anh, ở Châu Âu và các có ngành du lich phát triển đều có nên “kinh tế đêm” phát triển, thông qua việc thực hiện các dự án, chương trình gắn với ưu thế và đặc trưng văn hoá, thể thao, nghệ thuật của quốc gia, thành phố hay các điểm đến du lịch tại quốc gia đó [17, tr. Mặt khác, một số công trình nghiên cứu như “Du lịch và nên kinh tế ban đêm” [18]; “Người lạ trong đêm: nghiên cứu cuộc sống về đêm và du lịch đô thị mới” [29, tr 37] cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa du lịch và kinh tế đêm, du lịch và cuộc sống về đêm của người dân địa phương và khách du lịch và khăng định mối quan hệ giữa kinh tế đêm và du lịch. Ngoài ra, gần đây, còn có những nghiên cứu về du lịch đêm chủ yếu dưới góc độ kinh tế đêm có các tác giả Grazian (2008); Chew (2009); Peter (2009); Christopher (2020) cũng cho rằng DLĐ là một phần của kinh tế đêm. Như vậy, có thê thấy, phần lớn các nghiên cứu về hoạt động của Kinh tế đêm có nội dung bao trùm cả hoạt động DLĐ.
Hay nói cách khác, các nghiên cứu này chỉ ra rằng, DLĐ là một bộ phận quan trọng của kinh tế đêm. * Nghiên cứu về thời gian, bản chất hoạt động của du lịch đêm Về thời gian hoạt động cua du lịch đêm: Theo Guo và cộng sự (2011), thời gian của DLĐ dựa trên thời gian của kinh tế đêm “Nền kinh tế ban ngày dừng lại lúc 6 giờ toi và nên kinh tế ban đêm bắt đầu từ 6 giờ tối đến 6 giờ sáng” [21, tr 19], dé chỉ các hoạt động du lịch diễn ra trong khung thời gian ban đêm, nhằm phân biệt với các hoạt động du lịch diễn ra ban ngày. Một số nghiên cứu đi sâu vào thời gian diễn ra DLĐ, nhưng đa phần các nghiên cứu trên thế giới đều thống nhất là du lịch 13 đêm bao gồm các hoạt động kinh doanh dịch vụ từ 18h đến 6h sáng hôm sau (Philpot và cộng sự, 2019), nếu chia nhỏ hơn có thé thành 2 khung thời gian: Tối (Evening) từ 6h chiều đến 12h đêm; Đêm muộn (Late night) từ 12h đêm đến 6h sáng hôm sau. Những đô thị về đêm dần xuất hiện nhiều hơn như thành phố không ngủ (24-hour city) như New York, Amsterdam, Tokyo; thành phố về đêm (18-hour city) khi hoạt động 18h một ngày từ 6h sáng đến 12h đêm [28, tr.
vé noi dung, ban chất, cấu trúc hoạt động của du lịch đêm: Một số nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động DLD là hoạt động của khách du lich, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch diễn ra vào khoảng thời gian từ chiều tối kéo dài cho đến nửa đêm hoặc gần sáng tùy theo nhu cầu của khách du lịch [40, tr. Đặc trưng của hình thức du lịch này là chỉ tập trung tại các đô thi lớn hay các điểm du lịch nổi tiếng. Ban dau, hoạt động này mang tính tự phát, mang tính tự do của du khách nhằm thoả mãn nhu cầu muốn khám pha, tìm hiểu thêm về vẻ đẹp, nét đặc trưng của văn hoá đêm tại điểm đến. Dan dan, nhận thấy lợi ích từ các hoạt động kinh doanh, các dịch vụ vào ban đêm, nên các nhà cung ứng du lịch và người dân đã khéo léo khai thác, tạo ra các sản phẩm, dịch vụ đa dạng dé phuc vu nhu cầu của khách du lịch, tạo điều kiện cho DLĐ phát triển.
DLĐ dần dần được chú trọng nhiều hơn. Tại một số nơi trên thé giới, DLD đã trở thành điểm nhắn du lịch [32, tr. Một nghiên cứu khác của Nan Chen và cộng sự (2020), cho rằng “du lịch đêm là sự kéo dai và mở rộng các hoạt động du lịch thường xuyên vào ban ngày”. So với việc tham quan vội vã các điểm du lịch vào ban ngày, việc giải trí vào ban đêm có lợi hơn cho nhận thức của khách du lịch về văn hóa và trải nghiệm địa phương.
Thời gian ban đêm, du khách có thé đi mua sắm, thưởng thức các món ăn, tham quan các điểm du lịch, giao tiếp với cư dân địa phương và trải nghiệm những hoạt động khác nhau. Do đó, DLĐ là một cách tiếp cận đặc biệt dé cho thấy sự phát triển, nội hàm văn hóa, phong cách và đặc điểm của cộng đồng địa phương [28, tr. 57] Một số công trình nghiên cứu về cấu trúc của DLD, tiêu biểu có thể kế đến như: Sản xuất và tiêu dùng cuộc sống về đêm ở các thành phố công nghiệp [27, tr. 35]; Môi trường và bầu không khí của DLĐ (Selly Veronica và cộng sự, 2020).
Nghiên cứu của các tác giả này đều thống nhất rằng có bốn yếu tổ chính trong du lịch đêm: đó là kinh tê, xã hội, môi trường và bâu không khí vê đêm. Dịch vụ đêm phục vụ khách du lich Hiện nay, các nghiên cứu về DVD phục vụ khách du lịch được dé cập đến theo hai hướng nghiên cứu: * Dịch vụ đêm phục vụ khách du lịch là một phan cua dịch vu đêm, thuộc kinh tế đêm nói chung. Các nghiên cứu này đi sâu vào đề cập đến vai trò của DVD phục vụ khách du lịch. Cụ thể, các nghiên cứu đều khẳng định sự phát triển của DVD là một trong những phương tiện quan trọng dé làm giàu và thịnh vượng nền kinh tế đêm.
Cụ thé, nghiên cứu của Peter (2009) cho rằng, phát triển DVĐ là cơ hội phát triển liền mạch các dịch vụ thông qua hoạt động được xuyên suốt hoặc giao thoa giữa ban ngày và ban đêm Điều này rất có ý nghĩa với hoạt động du lịch, giúp cho du khách khi xa nơi cư trú thường xuyên của mình, có thể tìm thấy nhiều trải nghiệm hơn khi đi du lịch, từ đó, càng thu hút khách du lịch thì kinh tế du lịch càng phát triển. Ngoài ra, việc phát trién DVD tại địa phương góp phan giúp thành phố an toàn hơn thông qua các biện pháp chính sách giảm tội phạm, bảo đảm an toàn cho khách du lịch, đồng thời tạo thêm nhiều việc làm vào ban đêm [54, tr. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc thu hút hoạt động DVD sẽ thúc day văn hoá - xã hội tại địa phương phát triển, do có sự lưu thông các sản phẩm văn hóa, trải nghiệm cuộc sống như thời trang, nghệ thuật, âm nhạc, ầm thực, thé thao thông qua hoạt động của các câu lạc bộ, phòng trưng bày, điểm âm nhạc, âm thực đường phó, du lịch và thời trang. có thé giúp thúc đây nền kinh tế nói chung.
Nhiều tác giả như Pinke-Sziva và cộng sự (2019); Zmyslony & Pawlusinski (2020); Philpot và cộng sự (2019). khang định, các thành phó lớn trên thế giới coi xây dựng kế hoạch phát triển DVD là lợi thế cạnh tranh mới cho phát triển đô thị. * Dịch vụ đêm phục vụ khách du lịch là một phan của sản phẩm du lịch đêm Các nghiên cứu về sản phâm DLĐ hay DLĐ đều thê hiện quan điểm rang DVD phục vụ khách du lịch là một phan của sản phẩm DLD [28] [32] [34]. Do đó, nghiên cứu sản phẩm DLĐ chính là nghiên cứu DVĐ phục vụ khách du lịch.
Các nghiên cứu hướng đến sự cảm nhận của du khách về sản phẩm, DVD phục vụ khách du lịch thông qua một số nghiên cứu của Jeong Gang Hoan (2016), Chen và cộng sự (2020). Các nghiên cứu trên thống nhất rằng: giá trị cảm xúc, giá trị nhận thức, an 15 toàn có ảnh hưởng tích cực đến sự gắn bó của du khách với các điểm đến DLD. Dé duy trì sự phát triển bền vững của hoạt động DLĐ, chính quyền địa phương và các nhà quản lý điểm đến được khuyến nghị cung cấp dịch vụ, sản phẩm DLD mang tính thương hiệu với những trải nghiệm tối ưu, chú trọng đến cảm xúc của du khách. * Nghiên cứu về phân loại DVD phục vụ khách du lịch: Theo Christopher (2020), hoạt động DVD chính bao gồm các hoạt động như các hoạt động văn hóa và giải trí ban đêm, dịch vụ nhà nghỉ, khách sạn, homestay, nhà hàng và các dịch vụ ăn uống lưu động, dịch vụ tiệc cho các sự kiện và các hoạt động dịch vụ ăn uống khác.
Ngoài ra, hoạt động DVD phục vụ khách du lịch bao gồm các hoạt động bán đồ uống có côn; các hoạt động bảo vệ; các hoạt động sáng tạo, nghệ thuật và giải trí; thư viện, lưu trữ, bảo tàng và văn hóa; chơi đánh bạc và cá cược (chỉ dành cho người nước ngoài); các hoạt động thể thao; các hoạt động giải trí và tiêu khiển; các hoạt động hỗ trợ các hoạt động văn hóa và giải trí ban đêm [47, tr. Hay Grazian (2008); Chew (2009) đều thống nhất quan điểm: các DVD phục vụ khách du lịch còn bao hàm cả hoạt động bán lẻ tại các cửa hàng không phải là cửa hàng chuyên dụng; bán lẻ tại các quầy và các chợ; vận chuyển hành khách bằng đường sắt và giữa các đô thị; các dịch vụ vận chuyên hành khách đường bộ khác cũng như các hoạt động dịch vụ nhà nghỉ, khách sạn; các khu cắm trại, đỗ xe: các dịch vụ cho thuê nơi ở khác [61, tr. Như vậy, các nghiên cứu về DLĐ, có dé cập đến DVD phục vụ khách du lịch đều tập trung vào việc tìm hiểu các nội dung cơ bản, xương sống trong việc hình thành, phát triển dịch vụ DLD và sản phẩm DLD như: Vai trò, nội dung phát triển, thời gian hoạt động, phân loại dịch vụ/ sản phẩm DLD. Về cơ ban, DVD phuc vu khách du lịch được dé cập trong các nghiên cứu như là một phan của vấn dé nghiên cứu, chưa có nghiên cứu ổi sâu vào nội dung này.