CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN CỦA MỘT QUỐC GIA SANG CÁC NƯỚC HỒI GIÁO 1. Khái niệm và đặc điểm xuất khẩu hàng nông sản của một quốc gia 1. Khái niệm xuất khẩu nông sản của một quốc gia Xuất khẩu là một trong những hoạt động nằm trong các trao đổi thương mại quốc tế cùng với các hoạt động khác như nhập khẩu, chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập hàng hóa, dịch vụ. Thương mại quốc tế là những hoạt động giao dịch mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể thuộc những quốc gia, vùng lãnh thổ với nhau với mục tiêu thu được lợi nhuận.
Theo quan điểm lợi thế tuyệt đối của Adam Smith trong quan hệ thương mại quốc tế giữa quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển (dựa vào lợi thế khí hậu, tài nguyên, khoáng sản,…), lợi dụng sự chuyên môn hóa trong sản xuất để tiến hành trao đổi hàng hóa dư thừa với các quốc gia khác. Hoặc quan điểm lợi thế tương đối theo lý thuyết của David Ricardo, dựa theo năng suất lao động khác nhau giữa các quôc gia dẫn đến giao dịch trao đổi mua bán hàng hóa. Cho đến lý thuyết của Heckscher-Ohlin, thể hiện mục đích của trao đổi thương mại quốc tế là bản chất trao đổi các yếu tố (đất đai, lao động, vốn) dư thừa của các quốc gia với nhau nhằm thu lại lợi nhuận. Do vậy, dựa vào nguồn gốc của thương mại quốc tế, lợi dụng sự chuyên môn hóa, hay dư thừa các yếu tố đầu vào của các quốc gia sẽ tạo ra các hoạt động thương mại quốc tế.
Từ đó, có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động xuất khẩu. Tựu chung lại, Luật Thương mại Việt Nam đã quy định tại điều 28 (Luật Thương mại số: 36/2005/QH11) ngày 14/06/2005: “Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Nông sản được hiểu là các sản phẩm từ ngành nông nghiệp (từ các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi). Nông sản là hàng hóa thiết yếu trên thị trường đối với mỗi quốc gia, đây 6 là ngành hàng phục vụ nhu cầu cơ bản nhất của con người. Theo quan điểm về nông sản trong Hiệp định Nông nghiệp, WTO chia hàng hóa thành 2 nhóm nông sản và phi nông sản.
Được phân loại theo Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa của Tổ chức Hải quan thế giới (bảng mã hs), WTO xác định nông sản là tất cả các sản phẩm được liệt kê thuộc các Chương từ I đến XXIV (không bao gồm chương III là cá, các động vật thân mềm. và chương XVI là các chế phẩm từ cá, các động vật thân mềm.) và một số sản phẩm thuộc các chương khác trong hệ thống thuế mã hs mà có nguồn gốc từ các hoạt động nông nghiệp. Các hàng hóa chủ yếu bao gồm: Các sản phẩm cơ bản thu được từ hoạt động nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi): động vật sống, thịt, trứng, sữa, thực vật, ngũ cốc, rau, củ, quả, cà phê, hồ tiêu, ca cao, chè… Các sản phẩm đã qua chế biến từ các sản phẩm nông nghiệp: bơ, dầu ăn, bánh mì, bánh kẹo, đồ uống rượu bia, thuốc lá, bông, đường, giấm, các chế phẩm từ ngũ cốc, ca cao, rau, quả. Xuất khẩu nông sản của một quốc gia là hoạt động trao đổi đưa các hàng hóa là sản phẩm, chế phẩm của ngành nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) từ quốc gia, vùng lãnh thổ này đến quốc gia, vùng lãnh thổ khác, hoặc giữa các lãnh thổ hải quan với nhau để bán thông qua phương tiện thanh toán là tiền tệ.
Theo cách phân loại nông sản của WTO và để phù hợp với thực trạng nông sản xuất khẩu của Việt Nam (chủ yếu tập trung các sản phẩm từ trồng trọt), trong khuôn khổ bài luận văn chỉ nghiên cứu những sản phẩm là nông sản từ trồng trọt, các sản phẩm có nguồn gốc từ nông sản (trồng trọt) được qua chế biến thành phẩm. Đặc điểm xuất khẩu nông sản của một quốc gia Sản phẩm nông sản có tính thời vụ, tính vùng miền Các sản phẩm nông sản như vật nuôi, cây trồng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết… Các yếu tố này có sự biến đổi, chuyển hóa theo thời gian có tần suất trong mỗi năm, tác động đến quá trình biến đổi, phát triển của vật nuôi, cây trồng. Vì vậy nông sản còn chịu ảnh hưởng tác động trực tiếp của đất đai, địa hình, nguồn nước, nguồi thức ăn. Do đó, mỗi vùng miền, khu vực địa lý khác nhau sẽ tạo nên các mặt hàng 7 nông sản khác nhau.
Các yếu tố này cũng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng nguồn cung cấp nông sản cho thị trường xuất khẩu. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi tạo nên năng suất cao, chất lượng tốt, sẽ cho nguồn cung nông sản dồi dào. Ngược lại, điều kiện tự nhiên bất lợi, thiên tai, địch họa, sâu bệnh sẽ làm giảm năng suất, chất lượng, dẫn đến hạn chế nguồn cung sản phẩm cho xuất khẩu. Sản phẩm dễ biến đổi chất lượng, giá cả không ổn định Do hàng nông sản phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, dễ chịu tác động của môi trường bên ngoài, sản phẩm dễ bị hư hỏng, biến chất trong quá trình nuôi trồng, sản xuất, vận chuyển, nên thường yêu cầu những điều kiện vận chuyển, bảo quản khắt khe hơn, để đảm bảo chất lượng.
Điều này đòi hỏi các nhà xuất khẩu phải nghiên cứu, phát triển, hoàn thiện các quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển nông sản một cách hiệu quả, để hạn chế bị ảnh hưởng bởi điều kiện tự nhiên, dẫn đến biến đổi chất lượng, cũng như giá cả hàng nông sản. Trong giao dịch thương mại nói chung, thương mại quốc tế nói riêng thì hoạt động bán hàng hóa, xuất khẩu tạo ra nguồn thu ngoại tệ cho mỗi quốc gia nên được xem là hoạt động được chú trọng. Tuy nhiên hàng nông sản là nhóm ngành hàng có giá cả không ổn định, do đây là sản phẩm chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, năng suất, chất lượng không ổn định theo từng mùa vụ. Cùng với đó là sự cạnh tranh của các nhà xuất khẩu, đặc biệt với các sản phẩm hạn chế về điều kiện bảo quản, có thể dễ dẫn đến sự ép giá của nhà nhập khẩu.
Hay ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa, xã hội đến hoạt động tiêu dùng hàng hóa nông sản của đối tượng nhập khẩu, làm thay đổi xu hướng tiêu dùng các mặt hàng nông sản khác nhau, các sản phẩm thay thế có thể linh hoạt. Ngoài ra, sự không ổn định của tỷ giá tiền tệ trong giao dịch cũng là yếu tố dẫn đến biến động giá hàng hóa. Là nhóm hàng nhạy cảm trong giao dịch thương mại quốc tế Theo WTO, nhóm hàng nông sản được coi là nhóm mặt hàng có tính chất nhạy cảm, vì các nước thành viên đều muốn bảo vệ ngành nông sản họ, nên việc mở cửa thị trường, hạn chế cắt giảm trợ cấp hàng nông sản là không dễ dàng gì đối với mỗi quốc gia. Đối tượng sản xuất nông nghiệp luôn luôn là đối tượng có thu nhập thấp trong nền kinh tế, doanh thu từ hàng nông sản cũng chiếm tỷ lệ thấp so với các ngành công nghiệp, dịch vụ 8 khác.
Đồng thời, ở mỗi quốc gia, hàng nông sản đều góp phần đảm bảo ổn định an ninh lương thực, nhất là trong điều kiện thời tiết, khí hậu các vùng miền thay đổi. Vì vậy, dù theo lý do kinh tế, chính trị hay xã hội, WTO cho rằng nhóm hàng nông sản là nhạy cảm đối với mỗi quốc gia. WTO có Hiệp định Nông nghiệp chủ yếu đề cập đến hai nội dung công cụ kiểm soát nông sản tại cửa khẩu nhập của các quốc gia thành viên và việc trợ cấp nông nghiệp của các quốc gia. Đặc điểm thị trường hàng nông sản của quốc gia Hồi giáo Trên thế giới hiện nay các nước Hồi giáo chủ yếu được chia thành 2 nhóm: một nhóm các nước có hệ thống luật pháp tuân theo Luật Đạo Hồi (pháp luật nhà nước được xây dựng trên cơ sở kinh Coran) và nhóm các nước có tỷ lệ dân số theo Đạo hồi lớn, ở đó những quy định của Luật Đạo hồi được sử dụng để điều chỉnh một số hoạt động, lĩnh vực của đời sống văn hóa xã hội, pháp luật nhà nước có thể bị ảnh hưởng bởi Luật Đạo hồi nhưng độc lập, không tuân thủ hoàn toàn theo Luật Đạo hồi.
Nhóm nước lấy Đạo hồi là luật pháp nhà nước chính thống gồm một số nước như: khu vực 6 nước Vùng vịnh (GCC: Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất, Qatar, Kuwait, Oman, Ả rập xê út, Vương quốc Bahrain), Afghanistan, Pakistan, Iran, Iraq, Malaysia, Brunei… Nhóm nước đông dân số Đạo hồi gồm một số nước thuộc khu vực Châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Myanmar…), Châu Âu (Đức, Pháp, Anh…), Châu Mỹ (Hoa Kỳ)… Trong khuôn khổ luận văn nghiên cứu, khái niệm quốc gia Hồi giáo (hay nước Hồi giáo) chỉ có ý nghĩa đề cập đến những quốc gia có tỷ lệ lớn dân số theo Đạo hồi. Đặc điểm tiêu dùng hàng nông sản của người tiêu dùng ở các nước Hồi giáo tuân thủ chặt chẽ theo Luật Hồi giáo (quy định các vấn đề mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có đề cập đến chế độ ăn uống. Nông sản, thực phẩm là đồ ăn của người Hồi giáo xoay quanh. Theo tiếng Ả Rập, Halal là “được phép sử dụng” theo quy định của Luật Hồi giáo.
Haram là “không được phép”, hay nói cách khác là bị cấm. Thức ăn đồ uống của người Đạo hồi (còn gọi là thực phẩm Halal) là những sản phẩm được kiểm chứng đã tuân thủ theo Luật Đạo hồi. Thực phẩm, đồ ăn của người Hồi giáo không được chứa các thành phần 9 động vật bị cấm theo Luật, quá trình chế biến, lưu trữ, vận chuyển sản phẩm không được sử dụng những thiết bị, dụng cụ bị nhiểm bẩn bởi những thứ theo quy định gọi là “najis” trong Luật, phải tách biệt hoàn toàn với bất kỳ loại sản phẩm nào vi phạm Luật. “najis” trong Luật Hồi giáo là: những thứ bẩn thỉu, được cho là không thể làm sạch được (thịt lợn, máu, thịt đã bị hỏng của động vật bị chết trước khi giết mổ), thực phẩm bị ô nhiễm, thực phẩm bị tiếp xúc với rác bẩn.