BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC . Luận văn Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU LỜI MỞ ĐẦU Trong điều kiện tiến bộ khoa học công nghệ và của phân công lao động quốc tế hiện nay, không thể có một nước phát triển bình thường mà không cần sự giao lưu,phân công hợp tác quốc tế. Do vậy, quan hệ kinh tế quốc tế là nhân tố, là biện pháp để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, có hiểu quả. Mặt khác, phát triển công nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy quan hệ kinh tế quốc tế, làm cho đất nước có thể hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Một trong những chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam đó là hoạt động xuất nhập khẩu, là kết quả tất yếu của quá trình tự do hoá thương mại, quá trình phân công lao động, quá trình nâng cao vai trò tự chủ kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu của công nghiệp, nó là bản chất của hoạt động thương mại quốc tế trong phát triển kinh doanh công nghiệp. Cho nên để tăng nhanh tốc độ xuất khẩu, đẩy nhanh tiến độ hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, đảng ta đã chủ trương “ tiếp tục mở cửa nền kinh tế, thực hiện đa dạng hoá thị trường, đa phương hoá mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới.” Việc xuất khẩu sản phẩm sang thị trường EU hiện nay đang là vấn đề trung tâm để phát triển kinh tế nước nhà. Mặt khác, hãng dệt may lại đang là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong giai đoạn hiện nay của Việt Nam. Do vậy, xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường EU có ý nghĩa tầm chiến lược đối với sự phát triển ngoại thương nói riêng và nền kinh tế của Việt Nam nói chung. Xuất phát từ những thực tế trên và nhận thức được tầm quan trọng của ngành dệt may Việt Nam và thị trường EU là một thị trường tiềm năng song cũng có những quy định hết sức khắt khe đòi hỏi hàng dệt may Việt Nam phải không ngừng nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường này. Vì vậy, em Khoa: Qu¶n trÞ kinh doanh 1 đã chọn đề tài: “Những thời cơ và thách thức khi xuất khẩu hàng may mặc sang thị trường EU của ngành dệt may Việt Nam”. Nội dung của đề tài này bao gồm 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận của hoạt động xuất khẩu. Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU. Chương III: Các kiến nghị và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu. Trên cơ sở những kiến thức đã học và việc tổng hợp các tài liệu, sách báo, tạp chí em hy vọng đưa ra được nội dung cô đọng và cơ bản nhất liên quan đến đề tài. Trong quá trình thực hiện đề án môn học này, mặc dù đã có sự nỗ lực cố gắng của bản thân song do trình độ, thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế; nguồn tài liệu còn hạn hẹp nên đề tài không tránh khỏi những sai sót. Vì vậy, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô giáo và cùng bạn đọc. Em xin chân thành cảm ơn Giảng viên chính Nguyễn Thị Tứ đã dầy công hướng dẫn em làm đề án môn học Kinh tế và quản lý công nghiệp. Em xin chân thành cảm ơn nhiều. Sinh viên thực hiện Lê Thiết Ngọc. Khoa: Qu¶n trÞ kinh doanh 2 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU. Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu: 1. Khái niệm và đặc điểm: a. Khái niệm Hoạt động xuất khẩu là sự trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa các nước thông qua hành vi mua bán. Sự trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về nền kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia khác nhau trên thế giới. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có một vị trí và vai trò vô cùng to lớn trong quá trình phát triển kinh tế của mỗi một quốc gia nói chung và công nghiệp nói riêng. Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận lớn và là phương tiện thúc đẩy phát triển nền kinh tế. Nhà nước ta luôn coi trọng và thúc đẩy các ngành kinh tế hướng theo xuất khẩu. Đặc điểm - Xuất khẩu hàng hoá thể hiện sự kết hợp chặt chẽ và tối ưu các khoa học quản lý kinh tế với các nghệ thuật kinh doanh, giữa nghệ thuật kinh doanh với các yếu tố khác của từng quốc gia như yếu tố luật pháp, kinh tế văn hoá. Hơn nữa, hoạt động xuất khẩu hàng hoá nhằm khai thác lợi thế so sánh của từng nước, khai thác các nguồn lực cho phát triển, góp phần cải thiện đời sống nhân dân gia tăng tiến bộ xã hội và góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập, quốc tế hoá. Lợi thế so sánh đó là các lợi thế về vị trí địa lý, về lao động, về tài nguyên và sở hữu phát minh sáng chế. - Trong điều kiện hiện nay, xuất khẩu hàng hoá ở nước ta đang là một trong những mục tiêu cấp bách hàng đầu được chú trọng. Bởi nó đem lại lợi Khoa: Qu¶n trÞ kinh doanh 3 ích vô cùng to lớn cho sự phát triển nước nhà, tạo cho nhiều quốc gia có cơ hội thuận lợi trong việc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế văn hoá xã hội. - Hoạt động xuất khẩu hàng hoá diễn ra giữa hai hay nhiều quốc gia khác nhau, ở trong các môi trường và bối cảnh khác nhau. Điều này đòi hỏi chúng ta phải có một trình độ hiểu biết và kinh nghiệm để giao lưu và học hỏi khi xuất khẩu ra nước ngoài. Vì vậy, chúng ta không thể lấy kinh nghiệm trao đổi hàng hoá thông thường trong một quốc gia để áp đặt hoàn toàn cho hoạt động trao đổi hàng hoá với nước ngoài. - Hoạt động xuất khẩu có thể được tiến hành bởi tư nhân hoặc nhà nước. Đối với doanh nghiệp nhà nước thì chính phủ có nhiều mục tiêu khác nhau như chính trị, ngoại giao, văn hoá. Do đó, kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước, chính phủ có thể hiện hoặc không hoàn toàn hướng về lợi nhuận. Còn đối với doanh nghiệp tư nhân thì mục đích của họ là tối đa hoá lợi nhuận, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho đất nước. Vai trò của hoạt động xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động cơ bản của nền kinh tế quốc dân, là công cụ, phương tiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế. Do vậy, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế và thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vai trò của xuất khẩu thể hiện ở các mặt sau: - Tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá. Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, trong mục tiêu kế hoạch 5 năm 2001-2005 có nói: “ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Như vậy, để làm được điều đó tât yếu phải cần một lượng vốn lớn để thực hiện. Cho nên vốn là một nhân tố không thể thiếu được, là vấn đề sống còn với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Bởi vì khi có một Khoa: Qu¶n trÞ kinh doanh 4 lượng vốn lớn chúng ta có thể xây dựng cơ sở hạ tầng, nhập khẩu máy móc thiết bị, kỹ thuật công nghệ sản xuất hiện đại. phục vụ cho phát triển kinh tế. Để có được một lượng vốn cho nhập khẩu có thể được hình thành từ nhiều nguồn như: liên doanh đầu tư nước ngoài với nước ta; vay nợ, viện trợ, tài trợ; hoạt động du lịch, dịch vụ; xuất khẩu hàng hoá, lao động. Nhưng vẫn quan trọng hơn cả là xuất khẩu hàng hoá. Bởi vì các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ. tuy quan trọng nhưng rồi cũng phải trả bằng cách này hoặc cách khác. Ngoại tệ thu được qua các hoạt động du lịch, dịch vụ hiện nay chỉ là rất nhỏ so với nhu cầu về vốn của tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xuất khẩu lao động không ổn định đang có xu hướng giảm dần. Do vậy, nguồn ngoại tệ quan trọng nhất chi dùng cho nhập khẩu chính là từ xuất khẩu. - Đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển: Việc coi thị trường và đặc biệt là thị trường quốc tế là hướng quan trọng để tổ chức sản xuất chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trường thế giới để tổ chức sản xuất. Điều này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động đến sản xuất thể hiện ở chỗ: + Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển thuận lợi. Chẳng hạn, khi phát triển ngành dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc phát triển ngành sản xuất nguyên liệu như bông hoặc thuốc nhuộm. Mặt khác sẽ kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó. + Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và ổn định. Khoa: Qu¶n trÞ kinh doanh 5 + Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. + Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng cao năng lực sản xuất trong nước thông qua việc thu hút vốn, kỹ thuật, công nghệ từ các nước phát triển và Việt Nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước tạo ra một năng lực sản xuất mới. + Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của Việt Nam sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi được với mọi thị trường. + Xuất khẩu còn đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc quản trị sản xuất và kinh doanh. - Xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân: Việc xuất khẩu sản phẩm hàng hoá qua các thị trường quốc tế phải cần một lượng lớn nhân công để sản xuất và hoạt động xuất khẩu thu về một lượng ngoại tệ đáng kể để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng phục vụ đời sống và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng, phong phú của nhân dân.
Tổng quan nghiên cứu
Ngành dệt may Việt Nam đã trở thành một trong những ngành xuất khẩu chủ lực với kim ngạch đạt khoảng 1,85 đến 1,9 tỷ USD năm 2000, tăng gấp 10 lần so với năm 1991. Thị trường Liên minh Châu Âu (EU) là một trong những thị trường xuất khẩu quan trọng nhất, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong những năm 1990. Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức như hạn ngạch xuất khẩu, chất lượng sản phẩm chưa cao, phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và sự cạnh tranh gay gắt từ các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan. Mục tiêu nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường EU, đánh giá các cơ hội và thách thức, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và mở rộng thị phần xuất khẩu trong giai đoạn đến năm 2010. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào giai đoạn từ năm 1991 đến đầu những năm 2000, với trọng tâm là thị trường EU – một thị trường rộng lớn, có mức tiêu thụ hàng dệt may cao và yêu cầu khắt khe về chất lượng, mẫu mã. Nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nâng cao hiệu quả xuất khẩu, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế quốc dân và hội nhập kinh tế quốc tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn dựa trên các lý thuyết về hoạt động xuất khẩu và thương mại quốc tế, trong đó nhấn mạnh vai trò của xuất khẩu trong phát triển kinh tế quốc dân. Lý thuyết lợi thế so sánh được áp dụng để phân tích các yếu tố tạo lợi thế cạnh tranh cho ngành dệt may Việt Nam như vị trí địa lý, nguồn lao động giá rẻ, và nguồn nguyên liệu trong nước. Mô hình SWOT được sử dụng để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành dệt may khi thâm nhập thị trường EU. Các khái niệm chính bao gồm: xuất khẩu hàng hóa, hạn ngạch xuất khẩu (quota), quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, và chiến lược đa dạng hóa sản phẩm.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng và định tính dựa trên số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, Bộ Công Thương và các báo cáo ngành dệt may giai đoạn 1991-2002. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu chủ lực và số liệu kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Phương pháp chọn mẫu là phương pháp phi xác suất, tập trung vào các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu sang EU. Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng cách so sánh biến động kim ngạch, cơ cấu mặt hàng, và thị phần xuất khẩu qua các năm. Ngoài ra, nghiên cứu còn tổng hợp các báo cáo, bài viết chuyên ngành và các văn bản pháp luật liên quan đến chính sách xuất khẩu và thương mại quốc tế để làm rõ bối cảnh và các nhân tố ảnh hưởng. Timeline nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 1991-2002, với dự báo và đề xuất giải pháp đến năm 2010.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
-
Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU tăng từ 250 triệu USD năm 1993 lên 563,68 triệu USD năm 1998, tương đương tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 23% mỗi năm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tốc độ tăng trưởng có dấu hiệu chững lại, với kim ngạch dao động trong khoảng 500-600 triệu USD/năm.
-
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu: 80% kim ngạch xuất khẩu là hàng gia công, chủ yếu là áo jacket, áo váy, sơ mi đơn giản. Các mặt hàng cao cấp, đòi hỏi kỹ thuật và công nghệ cao chiếm tỷ lệ rất nhỏ do hạn chế về công nghệ và tay nghề lao động.
-
Phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu: Khoảng 70% nguyên liệu phục vụ sản xuất dệt may phải nhập khẩu, làm tăng giá thành và giảm sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.
-
Phân phối và thị trường: 70% kim ngạch xuất khẩu sang EU được thực hiện qua các nhà trung gian như Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc, Đức, làm giảm lợi nhuận và khả năng kiểm soát thị trường của doanh nghiệp Việt Nam.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân chính của sự chững lại trong tăng trưởng xuất khẩu là do hạn chế về công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và sự phụ thuộc lớn vào nguyên liệu nhập khẩu. Việc chủ yếu xuất khẩu theo hình thức gia công khiến doanh nghiệp không thể nâng cao giá trị gia tăng và xây dựng thương hiệu riêng. So với các nước trong khu vực như Trung Quốc (15 tỷ USD kim ngạch năm 1994) và Thái Lan (4,2 tỷ USD), kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam còn khiêm tốn. Các chính sách hạn ngạch của EU và sự cạnh tranh gay gắt từ các nước khác cũng là rào cản lớn. Dữ liệu có thể được trình bày qua biểu đồ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng năm và bảng cơ cấu mặt hàng xuất khẩu để minh họa rõ nét xu hướng và điểm yếu hiện tại. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng lao động và đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường EU.
Đề xuất và khuyến nghị
-
Đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng: Doanh nghiệp cần mở rộng danh mục sản phẩm từ hàng may mặc bình thường đến các sản phẩm cao cấp, đáp ứng yêu cầu về mẫu mã và chất lượng của thị trường EU. Thời gian thực hiện: 3-5 năm. Chủ thể: Doanh nghiệp và các viện nghiên cứu.
-
Đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Phục hồi và mở rộng chương trình đào tạo kỹ sư công nghệ sợi, dệt nhuộm tại các trường đại học, đồng thời tăng cường hỗ trợ nghiên cứu mẫu thời trang. Thời gian: liên tục, ưu tiên 2-3 năm đầu. Chủ thể: Bộ Giáo dục, doanh nghiệp, viện nghiên cứu.
-
Tăng cường xuất khẩu trực tiếp và giảm phụ thuộc trung gian: Doanh nghiệp cần chủ động xây dựng mối quan hệ trực tiếp với khách hàng EU, giảm thiểu các khâu trung gian để tăng lợi nhuận và kiểm soát thị trường. Thời gian: 2-4 năm. Chủ thể: Doanh nghiệp, Bộ Công Thương.
-
Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng quốc tế: Nhanh chóng triển khai tiêu chuẩn ISO 9000, ISO 14000 và SA 8000 để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành và tăng sức cạnh tranh. Thời gian: 1-3 năm. Chủ thể: Doanh nghiệp, tổ chức chứng nhận.
-
Hoàn thiện cơ chế quản lý xuất khẩu: Đơn giản hóa thủ tục nhập nguyên liệu, cải thiện chính sách thuế quan và phân bổ hạn ngạch theo hướng khuyến khích doanh nghiệp mở rộng thị trường không hạn ngạch. Thời gian: 1-2 năm. Chủ thể: Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Doanh nghiệp dệt may xuất khẩu: Nhận diện các thách thức và cơ hội trên thị trường EU, từ đó xây dựng chiến lược phát triển sản phẩm và mở rộng thị trường.
-
Cơ quan quản lý nhà nước: Hỗ trợ hoạch định chính sách phát triển ngành dệt may, cải thiện môi trường đầu tư và quản lý xuất khẩu hiệu quả.
-
Nhà đầu tư trong và ngoài nước: Đánh giá tiềm năng và rủi ro khi đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
-
Các tổ chức nghiên cứu và đào tạo: Cung cấp cơ sở dữ liệu và phân tích để phát triển chương trình đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ phù hợp với nhu cầu thực tiễn.
Câu hỏi thường gặp
-
Ngành dệt may Việt Nam có lợi thế gì khi xuất khẩu sang EU?
Ngành dệt may Việt Nam có lợi thế về nguồn lao động giá rẻ, dồi dào và một phần nguyên liệu sản xuất trong nước, giúp giảm chi phí sản xuất. Tuy nhiên, cần nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng yêu cầu khắt khe của thị trường EU. -
Tại sao xuất khẩu hàng dệt may sang EU chủ yếu qua trung gian?
Doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế về mạng lưới phân phối và thương hiệu quốc tế, nên thường phải thông qua các nhà trung gian như Hồng Kông, Đài Loan để tiếp cận thị trường EU, dẫn đến giảm lợi nhuận và mất kiểm soát thị trường. -
Hạn ngạch xuất khẩu ảnh hưởng thế nào đến ngành dệt may?
Hạn ngạch giới hạn số lượng hàng hóa được xuất khẩu vào EU, làm giảm khả năng mở rộng thị trường và cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Việc EU dần bỏ hạn ngạch từ năm 2005 là thách thức lớn nếu Việt Nam chưa gia nhập WTO. -
Làm thế nào để nâng cao chất lượng sản phẩm dệt may?
Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO, đầu tư công nghệ hiện đại, đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao và kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu đầu vào là các giải pháp thiết thực. -
Xu hướng phát triển ngành dệt may Việt Nam trong tương lai?
Ngành dệt may sẽ tiếp tục phát triển dựa trên đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng, mở rộng thị trường xuất khẩu trực tiếp và thu hút đầu tư nước ngoài, đồng thời thích ứng với các quy định thương mại quốc tế.
Kết luận
- Ngành dệt may Việt Nam đã đạt được tăng trưởng ấn tượng với kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 10 lần từ 1991 đến 2000, trong đó EU là thị trường trọng điểm.
- Hạn chế về công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu là những rào cản lớn ảnh hưởng đến sức cạnh tranh.
- Xuất khẩu chủ yếu theo hình thức gia công và qua trung gian làm giảm giá trị gia tăng và lợi nhuận cho doanh nghiệp.
- Cần đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng, đào tạo nguồn nhân lực và hoàn thiện cơ chế quản lý để tận dụng cơ hội từ thị trường EU.
- Các giải pháp đề xuất hướng tới mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu lên 4 tỷ USD vào năm 2010, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế.
Hành động ngay hôm nay để nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dệt may Việt Nam trên thị trường EU là cần thiết cho sự phát triển bền vững của ngành và nền kinh tế quốc dân.