CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ L LUẬN VỀ Ử PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG QUẢN L NGÀNH NGHỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN 1. N ữn ái niệm c ản 1. Ngành nghề kinh doanh có điều kiện Điều kiện kinh doanh được hiểu là: “Tập hợp các công cụ mà Ch nh phủ sử dụng để đặt ra các yêu cầu đối với công dân và doanh nghiệp”. Theo kiến của PGS.
Phạm Duy Nghĩa thì: “Điều kiện kinh doanh là mọi sự can thiệp của cơ quan hành ch nh vào quyền tự do kinh doanh của ngư i dân, thư ng được cụ thể hoá bằng những hành vi của nhân viên hành ch nh có quyền chấp nhận, hạn chế hoặc khước từ việc đăng k hoặc tổ chức những hoạt động kinh doanh cụ thể.”[1] Theo đó, sự can thiệp của cơ quan hành ch nh thư ng được thể hiện qua những hành vi như: thông qua văn bản pháp quy ấn định những hạn chế cho ngư i kinh doanh khi đầu tư vào ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhất định; chấp thuận, từ chối cấp phép cho nhà đầu tư; thông qua hành vi của cơ quan hành ch nh giám sát việc tuân thủ điều kiện kinh doanh… hoản 2 Điều 7 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác.”[2] Từ các quan điểm khoa học và theo quy định của pháp luật như trên, có thể rút ra được một số đặc điểm của điều kiện kinh doanh như sau: Một là, điều kiện kinh doanh chỉ áp dụng đối với một số ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhất định. 7 Điều kiện kinh doanh luôn gắn liền với ngành nghề kinh doanh. Tuy nhiên, Nhà nước không áp dụng điều kiện kinh doanh đối với tất cả các ngành nghề kinh doanh mà chỉ áp dụng đối với một số ngành nghề; và trong ngành nghề cũng chỉ có một số lĩnh vực quy định về điều kiện kinh doanh. Những ngành nghề đó gọi là ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Đó là những ngành nghề có liên quan đến môi trư ng; trật tự, an toàn xã hội; sức khoẻ ngư i dân nên phải tuân thủ những yêu cầu kinh doanh hoặc những quy tắc nghề nghiệp chặt chẽ. Hai là, đặt ra điều kiện kinh doanh là một trong những biện pháp điều tiết nền kinh tế thị trư ng thư ng được Nhà nước sử dụng nhằm đạt được mục đ ch kinh tế - xã hội nhất định. Mục đ ch của việc đặt ra điều kiện kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng hàng hoá, dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, thông qua đó bảo vệ ngư i tiêu dùng, bảo vệ môi trư ng và bảo vệ lợi ch cộng đồng. Vì vậy, nội dung của điều kiện kinh doanh thư ng là các yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá, chất lượng dịch vụ, điều kiện về nhân lực, yêu cầu về vệ sinh, an ninh trật tự, yêu cầu về ph ng cháy chữa cháy và ph ng ngừa ô nhiễm môi trư ng… Ba là, ở góc độ pháp l , điều kiện kinh doanh ch nh là những giới hạn quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để cơ quan Nhà nước quản l hoạt động kinh doanh.
Thông thư ng, các nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng k kinh doanh tại cơ quan đăng k kinh doanh để được cấp giấy chứng nhận đăng k kinh doanh (giấy chứng nhận đăng k doanh nghiệp). Doanh nghiệp có quyền chủ động đăng k kinh doanh và hoạt động kinh doanh, không phải xin phép, xin chấp thuận, hỏi kiến cơ quan có thẩm quyền nếu ngành nghề kinh doanh đó không thuộc ngành nghề cấm kinh doanh hoặc ngành nghề kinh doanh có 8 điều kiện. Doanh nghiệp được quyền tiến hành hoạt động kinh doanh kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng k kinh doanh. Tuy nhiên, đối với một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp bị giới hạn quyền tự do kinh doanh bằng việc nhà đầu tư bắt buộc phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh mà pháp luật quy định.
Doanh nghiệp chỉ được tiến hành các hoạt động kinh doanh kể từ khi đáp ứng đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật cho dù doanh nghiệp đã được cấp giấy chứng nhận đăng k kinh doanh. Như vậy, việc chuẩn bị các điều kiện vật chất, nhân sự và th i gian để doanh nghiệp gia nhập thị trư ng đối với những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thư ng lâu dài và tốn kém hơn so với ngành nghề kinh doanh không yêu cầu điều kiện kinh doanh. Điều kiện kinh doanh c n là cơ sở pháp l để cơ quan nhà nước quản l hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì dựa vào nội dung các điều kiện kinh doanh do pháp luật quy định, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ: 1) Hướng dẫn doanh nghiệp phải chấp hành hoặc phải cam kết thực hiện đúng và đầy đủ những điều kiện kinh doanh đó; 2) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp và xử l các vi phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh. Bốn là, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh.
Cho dù điều kiện kinh doanh được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như giấy phép kinh doanh; giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề… và th i điểm doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh cũng có sự khác biệt [3] nhưng doanh nghiệp phải duy trì các điều kiện kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giám sát theo cơ chế hậu kiểm. uản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện Theo Henry Fayol, (1841 – 1925), một học giả ngư i Pháp quan tâm đặc biệt đến lĩnh vực quản l và nổi tiếng bởi thuyết quản l Fayol gây được 9 sự chú trong giai đoạn thuyết quản l theo khoa học của F.Taylor được truyền bá rộng rãi từ Mỹ sang châu Âu với ảnh hưởng lớn suốt nửa đầu thế kỷ XX, Ông cho rằng, những công việc của một nhà quản l bao gồm: xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát. Quản l nói chung hay quản l doanh nghiệp nói riêng bao gồm những đề tài ch nh sau: Hoạch định, Tổ chức, Bố tr nhân lực, Lãnh đạo/động viên và kiểm soát. Theo Mary Parker Follett (1868-1933), một nhà văn, một nhà quản l nổi tiếng trên thế giới vào đầu thế kỷ XX với những cách hiểu về quản l và quản trị rất khác biệt trong giai đoạn đó và có giá trị về sau này, bà định nghĩa quản l là “Nghệ thuật khiến công việc được làm bởi ngư i khác”.
Theo Rober reitner, quản l hay quản trị lại được hiểu như sau: “Quản trị là tiến trình làm việc với ngư i khác và thông qua ngư i khác để đạt các mục tiêu của tổ chức trong một môi trư ng thay đổi. Trọng tâm của tiến trình quản trị là việc sử dụng có hiệu quả những nguồn tài nguyên có hạn của tổ chức”. Theo nhà văn, nhà quản l nổi tiếng thế giới, Mary Parker Follett (1868-1933), bà định nghĩa quản l là “nghệ thuật khiến công việc được làm bởi ngư i khác”. Theo Robert Albnese, khái niệm quản l hay quản trị như sau: “Quản trị là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con ngư i và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức.”[4] Theo Harold ootz & Cyril O`Donnell, quản l được hiểu là: “QT là việc thiết lập và duy trì một môi trư ng nơi mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả, nhằm đạt các mục tiêu của nhóm.” Theo quan niệm của C.
Mác, Ông đề cập đến khái niệm quản l ở góc độ sau: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản l ở mức độ nhiều hay t nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện 10 những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng. Có thể hiểu, “Quản l ” đặc trưng cho quá trình điều khiển, dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức, thư ng là tổ chức kinh tế, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài ch nh, vật tư, tr thực và giá trị vô hình). Có thể hiểu nôm na, quản l nói chung hay quản l trong các tổ chức nói riêng bao gồm những đề tài ch nh sau: Hoạch định, Tổ chức, Bố tr nhân lực, Lãnh đạo/động viên và kiểm soát.
Theo khoản 1 điều 8 Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, ngày 26/11/2014 của Quốc hội Nước Cộng h a XHCN Việt nam, quy định nghĩa vụ của doanh nghiệp: Đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật đầu tư và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh. Từ khái niệm về quản l nhà nước và khái niệm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, có thể hiểu: Quản lý nhà nước đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện là tổng thể hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước thực hiện nhằm xác lập một trật tự ổn định đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Quản lý nhà nước đựơc thể hiện bằng sự chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện với sự đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước nhằm mục tiêu kiểm soát tốt đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. 11 Quản l nhà nước đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện đặc trưng cho quá trình điều khiển, dẫn hướng tất cả các bộ phận của các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, thông qua việc thành lập và thay đổi các nguồn tài nguyên (nhân lực, tài ch nh, vật tư, tr thực và giá trị vô hình).
M t số v n đề chung về ử phạt vi phạm hành chính 1.