Phần mở đầu của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002). Và khoản 2 Điều 1 PLXLVPHC quy định “xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”. Và Pháp lệnh cũng quy định 3 nhóm biện pháp có thể được áp dụng đối với vi phạm hành chính: 1. Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính; 2.
Các biện pháp khắc phục hậu quả; 3. Các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính. Áp dụng các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả chính là hai nhóm biện pháp trách nhiệm hành chính theo lý luận nêu trên. Còn các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính là các biện pháp ngăn chặn hành chính, được áp dụng trong các trường hợp cần thiết phải ngăn chặn, dập tắt những vi phạm hành chính, đảm bảo việc xử phạt hay ngăn chặn những hậu quả thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra [81, tr.
Vậy, có thể kết luận xử phạt vi phạm hành chính là việc các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế hành chính (gồm các hình thức xử phạt vi phạm hành chính; các biện pháp khắc phục hậu quả; các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử phạt vi phạm hành chính) đối với những cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính nhằm đảm bảo trật tự và kỷ luật trong quản lý nhà nước. Theo quy định của pháp luật hiện hành, khái niệm xử phạt vi phạm hành chính nằm trong khái niệm xử lý vi phạm hành chính khi Điều 1 PLXLVPHC 2002 quy định rằng “Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com biện pháp xử lý hành chính khác”. Pháp lệnh XLVPHC 1995 và 2002 đều không đưa ra định nghĩa mang tính lý luận về XLVPHC, XPVPHC và các biện pháp xử lý hành chính khác mà chỉ quy định trực tiếp những hình thức, biện pháp thuộc nội hàm của các chế định này. Chúng ta cần xem xét liệu điều đó đã đúng về mặt lý luận hay chưa? Ở đây, cần phải thấy rằng khái niệm “xử lý vi phạm hành chính” là khái niệm mới xuất hiện và được chính thức quy định lần đầu tiên trong PLXLVPHC 1995.
Trước đó, trong một số văn bản pháp luật có sử dụng cụm từ “xử lý hành chính” hàm nghĩa chỉ các biện pháp phi hình sự như xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính. PLXPVPHC 1989 có khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” chỉ các biện pháp xử phạt thông dụng như cảnh cáo, phạt tiền, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm… Việc xuất hiện khái niệm “xử lý vi phạm hành chính” trong PLXLVPHC 1995 nhằm đưa ra một khái niệm chung bao hàm các chế tài tài xử phạt hành chính theo Pháp lệnh 1989 và các biện pháp xử lý hành chính khác mới được đưa vào Pháp lệnh 1995 trên cơ sở các quy định trước đây như Nghị quyết 49/NQ-TVQH ngày 20/06/1961 của UBTVQH về tập trung giáo dục cải tạo, Thông tư số 68/TTg-VG của Thủ tướng Chính phủ ngày 13/07/1964 về việc thành lập các trường giáo dục thiếu niên hư, Quyết định số 217/TTG/CN ngày 18/12/1967 về việc tổ chức lại các trường giáo dục thiếu niên hư… Khi Điều 1 Pháp lệnh XLVPHC 2002 quy định “Các biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 23, 24, 25, 26 của Pháp lệnh này” đã chứng tỏ vấn đề “các biện pháp xử lý hành chính khác” được lồng ghép vào Pháp lệnh là một sự khiên cưỡng. Bởi vì các biện pháp hành chính khác (hay còn gọi là các biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt) về cơ bản không phải là biện pháp xử lý vi phạm hành chính mà có bản chất rất khác nhau, đa phần trong số đó là các biện pháp tư pháp hình sự. Trong Bộ luật Tố tụng Hình sự đã có một số biện pháp tương tự bởi đối tượng áp dụng các biện pháp này không chủ yếu là đối tượng VPHC [81, tr.
Và chính vì “các biện pháp xử lý hành chính khác” là một sự lồng ghép không đúng chỗ nên khái niệm “xử lý vi phạm hành chính” cũng là một phép cộng khiên cưỡng khi Pháp lệnh quy định một cách máy móc “Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác”. Do đó, có thể khẳng định khái niệm xử lý vi phạm hành chính theo tinh thần Pháp lệnh không có tính khoa học. Đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính 1. Cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính là vi phạm hành chính 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Không có VPHC thì không có trách nhiệm hành chính, cũng như cơ sở của trách nhiệm hình sự là tội phạm, của trách nhiệm dân sự là vi phạm quan hệ dân sự, của trách nhiệm kỷ luật là vi phạm kỷ luật.
Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật và do đó được áp dụng theo thủ tục hành chính do các quy phạm thủ tục hành chính quy định. Vì VPHC là những vi phạm nhỏ và phổ biến nên việc XPVPHC không theo thủ tục tư pháp như đối với truy cứu trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự, mà theo thủ tục hành chính và chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Không phải bất kỳ cơ quan quản lý nhà nước nào cũng có thẩm quyền XPVPHC mà chỉ có một số cơ quan nhất định trong số đó được nhà nước trao quyền hạn này. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, cũng như việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính nói chung, nằm ngoài hoạt động xét xử của Tòa án.
Còn các biện pháp trách nhiệm hình sự, dân sự được thực hiện theo trình tự xét xử của Tòa án. Tuy nhiên, Tòa án cũng có thẩm quyền XPVPHC trong trường hợp ngoại lệ đặc biệt (đó là đối với những hành vi gây rối trật tự tại phiên tòa). Thủ tục XPVPHC đơn giản hơn so với thủ tục áp dụng cưỡng chế hình sự và dân sự. Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính không chỉ nhằm đảm bảo thực hiện, bảo vệ các quy phạm vật chất của ngành luật hành chính mà còn bảo đảm thực hiện và bảo vệ các quy phạm vật chất của các ngành luật khác (như luật tài chính, ngân hàng, đất đai, môi trường…) 4.
Giữa cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền thực hiện xử phạt vi phạm hành chính và chủ thể bị áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính không có quan hệ trực thuộc. Đây là đặc điểm quan trọng phân biệt việc áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp cưỡng chế kỷ luật – dạng cưỡng chế mà cơ quan quản lý nhà nước cũng có quyền áp dụng rộng rãi trong hoạt động của mình. Giữa chủ thể có thẩm quyền áp dụng cưỡng chế kỷ luật và người bị áp dụng biện pháp cưỡng chế đó phải có quan hệ trực thuộc. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính 1.
Khái niệm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển nhanh chóng của đời sống kinh tế xã hội thì tình trạng vi phạm hành chính cũng ngày càng diễn ra phổ biến và đa dạng về hình thức biểu hiện, gây ảnh hướng lớn đến an ninh trật tự an toàn xã hội 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và sự phát triển nói chung, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực. Trước thực trạng VPHC diễn ra hết sức phổ biến và đa dạng, phức tạp như vậy, Nhà nước ta đã dần hoàn thiện thể chế pháp lý về XPVPHC, đồng thời kiện toàn bộ máy XPVPHC bao gồm cả con người, trang thiết bị phương tiện và những vấn đề liên quan nhằm đáp ứng hữu hiệu yêu cầu hiện nay.Từ khi thành lập nước đến nay, hệ thống pháp luật về XPVPHC nước ta ngày càng hoàn thiện hơn. Sau cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam mới bên cạnh nhiệm vụ tiến hành công cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập còn non trẻ và cũng để phục vụ sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc đó đã bắt đầu thực hiện những biện pháp bảo đảm an ninh trật tự. Trong lĩnh vực hành chính Nhà nước cũng bắt đầu thi hành các biện pháp “có tính cách hành chính” thể hiện bằng việc ban hành văn bản quy định các hình thức xử phạt đối với các hành vi vi phạm các chính sách của Nhà nước lúc bấy giờ.
Các văn bản của Nhà nước giai đoạn này quy định về vi phạm hành chính và chế tài hành chính thường có trong nhiều văn bản và trực diện đưa ra các vi phạm và biện pháp chế tài cụ thể đi liền. Giai đoạn tiếp theo từ năm 1954 đến năm 1989, xét về mặt kỹ thuật lập quy cũng như hoạt động xử phạt hành chính so với giai đoạn trước đó, cũng chưa có nhiều biến chuyển. Việc quy định hành vi vi phạm hành chính và các chế tài đối với chúng (ngoài những quy định cũ vẫn hiện hành) vẫn do nhiều cơ quan (từ Chính phủ đến Bộ, Uỷ ban nhân dân) quy định trong các văn bản khác nhau và vẫn theo cách xử lý tình hưống chứ chưa thành hệ thống, chưa có tính tổng thể, toàn diện. Điểm đặc trưng là giai đoạn này nổi lên khía cạnh quản lý nhằm xác lập và bảo vệ các quan hệ xã hội chủ nghĩa.
Chính điều này có ảnh hưởng rõ rệt đến việc quy định các hành vi vi phạm và hệ thống chế tài đối với chúng. Thời kỳ này đã có một văn bản quy định riêng về XPVPHC là Điều lệ xử phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định số 143/CP ngày 27-5-1977 của Hội đồng Chính phủ. Năm 1989 được lấy làm mốc cho giai đoạn mới của sự phát triển của pháp luật xử phạt hành chính.