Chương 1 PHÁP LUẬT VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG THỦY NỘI ĐỊA 1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA GIAO THÔNG, VẬN TẢI ĐƢỜNG THỦY VIỆT NAM Giao thông vận tải có tầm quan trọng đặc biệt với nền kinh tế quốc dân. Tuy bản thân giao thông vận tải không tạo giá trị vật chất, song nó xúc tiến quá trình tái sản xuất mở rộng, đưa nguyên liệu đến nơi sản xuất và sản phẩm đến người tiêu thụ. Bời vậy, giao thông vận tải là một trong những thành phần quan trọng không thể thiếu của nền kinh tế quốc dân.
Cùng với giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, hàng không, giao thông vận tải đường thủy góp phần làm cho hệ thống giao thông vận tải Việt Nam hoàn chỉnh, tạo ra ưu thế cho nền kinh tế quốc dân. Giao thông vận tải thủy bao gồm giao thông vận tải biển và giao thông vận tải thủy nội địa. Đường biển đống vai trò quan trọng trong giao lưu quốc tế, đáp ứng ngày càng tăng yêu cầu cung cấp năng lượng, nguyên vật liệu cho các ngành công nghiệp hàng đầu của đất nước, là đầu mối trong giao lưu, trao đổi kinh tế, văn hóa với các quốc gia khác. Giao thông vận tải thủy nội địa được tiến hành trên các sông, kênh rạch, các hồ nước, vùng nước nội thủy.
Vận tải thủy nội địa, với những tính chất ưu việt riêng có, nó chuyên chở chủ yếu là quặng, than, vật liệu xây dựng, lương thực, phân bón v.v… được coi là hàng hóa đặc trưng cơ bản của nước công nghiệp hóa. Vận tải thủy nội địa lại vận chuyển được các loại hàng cồng kềnh, siêu trường, siêu trọng mà các loại hình vận tải khác khó có thể đảm nhận được. Đồng thời, vận tải thủy nói chung, thủy nội địa nói riêng có giá thành vận chuyển thấp, chi phí đầu tư xây dựng cơ bản ít tốn kém, duy tu bảo dưỡng công trình cũng đơn 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc biệt, vận tải thủy nội địa có mức độ bảo đảm an toàn khá lớn, ít xảy ra sự cố, thường chiếm từ 2 - 2,5% tai nạn, sự cố trong tổng số tai nạn, sự cố của các loại hình giao thông vận tải khác.
Ngoài ra, giao thông đường thủy nội địa còn gắn chặt với đời sống, sinh hoạt của một bộ phận lớn dân cư và phục vụ nhiều ngành kinh tế như nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, khai thác cát, sỏi phục vụ xây dựng, môi trường, du lịch. Hơn nữa, Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi, kiến tạo cho trên 2.360 con sông, kênh với chiều dài khoảng 200.000 km, lại được thông qua 175 của sông nối với vùng nước nội thủy rộng lớn (bằng 2/5 diện tích đất liền) từ 3.260 km ven biển, tạo thành hệ thống giao thông đường thủy nội địa hoàn chỉnh, rộng lớn. Đặc biệt, sông, kênh trên đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long đạt mật độ 4km/km2, đưa hệ thống giao thông đường thủy nội địa nước ta trở thành một trong 10 quốc gia có hệ thống đường thủy nội địa lớn nhất. Từ những điều kiện thuận lợi đó, trên hệ thống giao thông đường thủy nội địa cả nước hiện thường xuyên có 1.893 phương tiện thủy nội địa, khoảng 95.000 tàu cá và trên 25.000 phương tiện cơ giới nhỏ có trọng tải 5 tấn trở xuống hoạt động, tạo mật độ phương tiện hoạt động lớn, phong phú, đa dạng, góp phần quan trọng và sự phát triển kinh tế của đất nước và đời sống dân sinh.
Chỉ tính riêng hiệu quả vận tải của đội tàu thủy nội địa, cũng chỉ tính hàng hóa, hành khách vận chuyển thông qua các cảng, bến có sự quản lý của cơ quan nhà nước, hàng năm vận chuyển được khoảng 45- 50 triệu tấn hàng, hàng chục triệu lượt khách, đạt khoảng 30% tỷ trọng vận tải trong các loại hình vận tải của cả nước. Điều đó khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của hệ thống giao thông thủy nội địa Việt Nam và giao thông đường thủy nội địa đang được phát huy tiềm năng, khai thác vận tải đạt hiệu quả cao. Với tiềm năng giao thông to lớn nói trên, hàng năm tốc độ tăng trưởng vận tải đạt bình quân 10%. Một số tuyến giao thông trọng điểm (Phả Lại-Hòn 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Gai, Thành phố Hồ Chí Minh-Cà Mau.) đang được đầu tư nâng cấp và chuẩn hóa để đảm bảo cho phương tiện hoạt động 24/24 giờ.
Bên cạnh đó, ngành giao thông vận tải đang tiếp tục thu hút đầu tư để mở rộng mạng lưới giao thông đường thủy nội địa để tổ chức quản lý được trên 12.000 km sông, kênh. Cùng với sự phát triển của phương tiện giao thông vận tải, hoạt động của ngành kinh tế mũi nhọn hiện nay là khai thác thủy sản phục vụ xuất khẩu được dự báo tốc độ tăng trưởng 12-15%/năm. Trong đó tập trung phát triển Đội tàu đánh bắt xa bờ với hàng vạn phương tiện có công suất từ 150CV trở lên. Ngoài ra, các ngành kinh tế khác, nhất là khai thác vật liệu xây dựng, du lịch trên đường thủy nội địa cũng được dự báo phát triển mạnh với tốc độ tăng trưởng 8-10%/năm.
Vì vậy, bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường thủy nói chung và đường thủy nội địa nói riêng là yêu cầu tất yếu, khách quan. Là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống tổ chức nhà nước, chính quyền địa phương, hệ thống chính trị. KHÁI NIỆM VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG THỦY NỘI ĐỊA 1. Khái niệm Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính chất bắt buộc chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội [24, tr.
Pháp luật có ba chức năng: điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục. Sở dĩ pháp luật có chức năng bảo vệ vì trong xã hội vẫn tồn tại những "vi phạm pháp luật" - là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích của xã hội, quyền và lợi ích của công dân, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi [24, tr. Và người vi phạm pháp luật phải chịu trách nhiệm pháp lý - 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hậu quả của vi phạm pháp luật và được thể hiện trong việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế (chế tài xử lý) [24, tr. Vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội.
Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội phạm nhưng vi phạm hành chính là hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nếu như không được ngăn chặn kịp thời. Chính vì lẽ đó công tác đấu tranh phòng và chống vi phạm hành chính luôn là vấn đề được xã hội quan tâm. Nhà nước ta đã ban hành khá nhiều văn bản pháp luật quy định về xử phạt vi phạm hành chính và đang có hiệu lực pháp lý thi hành như là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002, được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008 (gọi chung là Pháp lệnh). Bên cạnh Pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành các nghị định quy định cụ thể việc xử lý các vi phạm hành chính trên các lĩnh vực khác nhau của quản lý hành chính nhà nước như trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, lĩnh vực giáo dục- đào tạo, lĩnh vực hải quan, lĩnh vực thuế… Trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa định nghĩa về vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa cũng đã được ghi nhận trong văn bản pháp luật.
Tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định 60/2011/NĐ-CP quy định: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa là những hành vi của tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật về giao thông đường thủy nội địa một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm: a) Vi phạm quy định về quản lý và bảo vệ công trình thuộc kết cấu hạ tầng giao thông đường thủy nội địa; b) Vi phạm quy định về phương tiện thủy nội địa; 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com c) Vi phạm quy định về thuyền viên, người lái phương tiện; d) Vi phạm quy định về quy tắc giao thông và tín hiệu của phương tiện; đ) Vi phạm quy định về hoạt động của cảng, bến thủy nội địa và vận tải đường thủy nội địa [9]. Như vậy, vi phạm hành chính trên đường thủy là hành vi của cá nhân, tổ chức cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước thuộc lĩnh vực đường thủy hoặc xảy ra trên đường thủy nội địa nhưng chưa đến mức là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Từ khái niệm này, cần xác định rõ một số vấn đề sau: - Cần hiểu, đường thủy là một phạm vi địa bàn quản lý có tính đặc thù trên lãnh thổ, bao gồm diện tích mặt nước sông, kênh, rạch, hồ nước, đầm phá, vũng, vịnh, cửa sông và trên biển; - Các hành vi vi phạm thuộc các lĩnh vực quản lý nhà nước về đường thủy như lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa, hàng hải, thủy sản….; - Các hành vi vi phạm thuộc các lĩnh vực quả lý nhà nước nói chung có liên quan đến đường thủy hoặc xảy ra trong phạm vi đường thủy như: Lĩnh vực an ninh trật tự, khai thác khoáng sản môi trường, du lịch… Như vậy phạm vi trách nhiệm quản lý, kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm hành chính giao thông đường thủy tương đối rộng, không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực giao thông đường thủy nội địa. Đây là một đặc thù chi phối các hoạt động nói chung của ngành đường thủy, xử lý vi phạm nói riêng.