Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT THUẾ VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 1. Khái niệm và phân loại vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp Cơ sở của việc xử lý vi phạm về thuế TNDN là có hành vi vi phạm pháp luật thuế TNDN được pháp luật quy định. Việc nghiên cứu về khái niệm vi phạm pháp luật thuế TNDN có ý nghĩa lý luận quan trọng và mang tính thực tiễn sâu sắc, bởi lẽ, chỉ khi định nghĩa đúng về vi phạm pháp luật về thuế TNDN mới có thể xác định được các hành vi phạm cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước.
Khi truy cứu trách nhiệm pháp lý hoặc áp dụng hình thức xử phạt, thông thường chúng ta đều phải xác định hành vi vi phạm của người vi phạm. Xác định được đúng hành vi vi phạm pháp luật (tức là xác định đúng cơ sở xử phạt) thì việc thực hiện xử phạt mới đúng đắn, mới đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của tổ chức và cá nhân, phát huy được hiệu quả và mục đích của việc xử phạt vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế TNDN là nhằm lập lại trật tự quản lý nhà nước bị xâm hại, góp phần giáo dục người vi phạm và cảnh báo, phòng ngừa vi phạm trong tương lai và tránh được sự tùy tiện trong việc xử phạt. Theo Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật [18, tr. 537]: Vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến các lợi ích được bảo vệ bằng ngành luật tương ứng hoặc trái với các quy định được quy định trong ngành luật ấy, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý và đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi.
Theo giáo trình Luật Thuế Việt Nam [26, tr. 337]: Vi phạm pháp luật được hiểu là hành vi làm trái các quy định của pháp luật, do tổ chức hoặc cá 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân thực hiện với một lỗi xác định (cố ý hoặc vô ý), gây thiệt hại đến lợi ích chung và do đó phải chịu trách nhiệm pháp lý về hành vi đó của mình. Từ các quan niệm trên, theo nghĩa rộng, vi phạm pháp luật về thuế TNDN được hiểu là việc tổ chức, cá nhân và các chủ thể khác tham gia quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ một cách cố ý hoặc vô ý nghĩa vụ và trách nhiệm thu, nộp thuế và làm dịch vụ về thuế TNDN do pháp luật quy định, làm phát sinh những hậu quả pháp lý đối với hành vi đó. Theo nghĩa rộng như vậy, vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp không chỉ được pháp luật về quản lý thuế điều chỉnh, mà còn được nhiều quy định pháp luật khác điều chỉnh như: Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Luật xử lý vi phạm hành chính.
Chủ thể vi phạm pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp không chỉ có người nộp thuế, mà cả người thu thuế (cơ quan, cán bộ, công chức thuế), các tổ chức làm dịch vụ thuế. Theo nghĩa hẹp, vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp là hành vi của các tổ chức, cá nhân và các chủ thể khác trong quan hệ pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ một cách cố ý hoặc vô ý các quy định của pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp và pháp luật quản lý thuế, làm phát sinh hậu quả pháp lý đối với hành vi đó. Ở nghĩa hẹp nhất, vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp được hiểu là các hành vi vi phạm được quy định ở Điều 103 Luật Quản lý thuế năm 2006 do người nộp thuế thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, làm phát sinh hậu quả pháp lý bất lợi mà người thực hiện hành vi đó phải gánh chịu. Luận văn tiếp cận khái niệm vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp theo nghĩa hẹp nhất này.
Trước tiên cần phải khẳng định vi phạm pháp luật về thuế TNDN là một loại vi phạm pháp luật. Nó mang đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng của vi 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phạm pháp luật: đó là hành vi khách quan được thể hiện thông qua hành động (hoặc không hành động) của con người trái với các quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra bằng các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành; hành vi đó thể hiện ý chí của chủ thể thực hiện bằng sự cố ý hoặc vô ý đối với việc thực hiện và nó xâm hại đến lợi ích của cộng đồng, trật tự xã hội và lợi ích của nhà nước và bị áp dụng chế tài pháp lý mang tính cưỡng chế nhà nước. Nhìn một cách tổng quát, có thể nhận diện hành vi vi phạm pháp luật thuế nhờ ở các dấu hiệu cơ bản sau đây: Về phương diện chủ thể, vi phạm pháp luật thuế TNDN là hành vi được thực hiện bởi chủ thể là tổ chức hoặc cá nhân có liên quan đến hoạt động nộp thuế TNDN. Sở dĩ như vậy là bởi vì, chủ thể này thường được trao các thẩm quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định khi tham gia vào quá trình nộp thuế (vì lợi ích riêng của họ hoặc lợi ích chung) nhưng đã không thực hiện đúng các thẩm quyền, nghĩa vụ đó như đòi hỏi của pháp luật.
Điều đó cho thấy, vi phạm pháp luật thuế bao giờ cũng liên quan đến chủ thể được pháp luật thuế quy định các quyền, nghĩa vụ nhất định và việc quy định những quyền, nghĩa vụ này không ngoài mục đích nhằm đảm bảo lợi ích chung, trên cơ sở dùng pháp luật để điều chỉnh hành vi của họ. Về phương diện khách quan, vi phạm pháp luật thuế là hành vi trái pháp luật. Tính trái pháp luật của những hành vi này thể hiện ở chỗ, chúng không chỉ vi phạm những quy tắc xử sự chung đã được thể hiện trong trật tự pháp luật mà trong chừng mực nào đó, những hành vi này còn có thể gây phương hại đến những lợi ích chung hoặc lợi ích riêng đang được pháp luật bảo vệ. Nói cách khác, vi phạm pháp luật thuế chính là hành vi làm trái những gì mà pháp luật thuế đòi hỏi tuân thủ ở chủ thể pháp luật khi họ tham gia vào quá trình nộp thuế.
Có thể dẫn ra đây nhiều hành vi vi phạm pháp luật thuế như vi phạm các thủ tục thuế; chậm nộp tiền thuế; khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn; trốn thuế, gian lận thuế. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về phương diện chủ quan, vi phạm pháp luật thuế bao giờ cũng phản ánh mức độ lỗi (cố ý hoặc vô ý) của người thực hiện. Tính chất có lỗi của người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thuế thể hiện ở chỗ, chủ thể của hành vi hoàn toàn có khả năng tránh được sự vi phạm nhưng họ đã không tránh hoặc cố ý thực hiện hành vi vi phạm vì một động cơ hay mục đích thúc đẩy. Tính chất có lỗi của hành vi vi phạm pháp luật thuế được xem là một trong số các căn cứ để xác định và truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người thực hiện hành vi.
Trong mặt chủ quan của nhiều vi phạm, yếu tố động cơ, mục đích vi phạm cũng được tính đến khi xem xét để quyết định các hình thức và mức xử phạt cụ thể. Về phương diện khách thể, hành vi vi phạm pháp luật thuế đã phương hại đến những lợi ích cụ thể được pháp luật bảo vệ. Những lợi ích này có thể chỉ là lợi ích riêng của tổ chức, cá nhân hoặc lợi ích chung của toàn xã hội. Tùy thuộc vào mức độ xâm hại của hành vi vi phạm pháp luật thuế đến lợi ích (khách thể) mà người ta xác định được mức độ cũng như loại chế tài tương ứng sẽ áp dụng đối với hành vi đó.
Chẳng hạn, đối với hành vi trốn thuế, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của hành vi (thường được xác định dựa vào mức tiền thuế trốn lậu) mà hành vi này có thể bị xử lý hành chính theo Luật xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam. Khi xem xét, đánh giá một hành vi trái pháp luật có phải là vi phạm pháp luật hay không, cần xem xét đầy đủ các dấu hiệu, yếu tố cấu thành pháp lý của vi phạm; từ đó có thể xác định là vi phạm gì để chọn chế tài đúng. Phân loại vi phạm pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp Trong thực tiễn pháp lý, các hành vi vi phạm pháp luật thuế diễn ra rất đa dạng, tinh vi và phức tạp, với nhiều dạng thức khác nhau. Việc phân loại các vi phạm pháp luật về thuế không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng, đặc biệt là giúp cho các nhà làm luật xây 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dựng được cơ chế xử lý phù hợp, thỏa đáng đối với từng nhóm loại và từng hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
Đương nhiên, cho dù các vi phạm này tồn tại dưới những hình thức nào thì về phương diện bản chất, mỗi vi phạm đó đều thuộc về một trong các loại hình vi phạm chủ yếu sau đây: * Theo mức độ vi phạm - Vi phạm hành chính về thuế TNDN Trên nguyên tắc, do đa số các quy định pháp luật về thuế nói chung, thuế TNDN nói riêng, thuộc loại quy phạm pháp luật hành chính nên phần lớn những hành vi vi phạm pháp luật về thuế TNDN diễn ra trong thực tế thuộc loại vi phạm hành chính. Về mặt lý thuyết, vi phạm hành chính về thuế là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành vi hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự nhà nước và xã hội, trật tự quản lý, sở hữu của Nhà nước, của tổ chức và của cá nhân, xâm phạm các quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính [29, tr.