đặt vấn đề như trên, ta thấy rằng tín dụng là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay thông qua sự vận động của giá trịvà những hành vi tín dụng có thể được diễn ra trực tiếp giữa người thừa vốn cần đầu tư với người cần vốn để sử dụng. Nhưng thực tế, hai người này khó có thể phù hợp với nhau về quy mô, về thời gian nhàn rỗi và thời gian sử dụng vốn; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 7 hoặc cũng có thể phù hợp được thì phải tốn kém chi phí tìm kiếm, nên để thỏa mãn được nhu cầu của hai người thì cần thiết phải có một người thứ ba đứng ra tập trung được tất cả số vốn của những người tạm thời thừa, cần đầu tư kiếm lãi. Người thứ ba đó - không ai khác -chính là tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là các NHTM - người môi giới tài chính trên thị trường tài chính. Thực hiện chức năng làm trung gian tín dụng trong nền kinh tế, các NHTM đã góp phần không nhỏ để giải quyết thoả đáng những băn khoăn của người có vốn và đáp ứng tốt mọi nhu cầu của người cần vốn.
Để giới hạn phạm vi nghiên cứu, trong toàn bộ phạm vi bài luận văn này, chúng ta chỉ bàn về các hoạt động tín dụng cũng như các vấn đề liên quan đến hoạt động tín dụng của NHTM chứ không bao gồm các hoạt động tín dụng nói chung hay các hình thức tín dụng khác của các chủ thể khác. Rủi ro là đặc trưng gắn liền với hoạt động tín dụng. Ở trên ta đã cho rằng rủi ro là một đặc trưng của hoạt động tín dụng; nhưng để bàn về khái niệm rủi ro thì cũng có nhiều quan điểm, trường phái khác nhau. Những trường phái khác nhau, những tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau; tuy rất phong phú và đa dạng, nhưng tập trung lại có thể chia thành hai trường phái lớn: - Theo trường phái truyền thống: Theo quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho chủ thể.
Đối với chủ thể kinh tế thì đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến hay những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. - Theo trường phái hiện đại: rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại những lợi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 8 ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai.
Còn đối với Rủi ro tín dụng; ta có khái niệm rằng “Rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra với ngân hàng khi người vay không trả được nợ một phần hay toàn bộ nợ vay (nợ gốc và/hoặc lãi vay) khi đến hạn trả nợ” hay ngắn gọn hơn là “rủi ro tín dụng là rủi ro xảy ra khi khách hàng vay vốn không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết ” (Học viện ngân hàng, 2010) Theo quan điểm truyền thống nêu trên thì rủi ro tín dụng là thiệt hại xảy ra với ngân hàng (thiệt hại về tiền, tài sản); và theo quan điểm hiện đại thì việc nghiên cứu rủi ro tín dụng sẽ giúp các NHTM hạn chế, phòng ngừa các trường hợp tương tự có thể xảy ra trong tương lai. Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng là tối đa hóa lợi nhuận sau khi đã điều chỉnh rủi ro của ngân hàng với mức độ rủi ro trong giới hạn cho phép. Như vậy, khi rủi ro tín dụng xảy ra mà không được quản trị tốt, không xử lý được trong một khoảng thời gian hợp lý thì nợ xấu sẽ xuất hiện. Và đương nhiên, mức nợ quá hạn, nợ xấu phát sinh cần phải nằm trong giới hạn cho phép mà ngân hàng có thể chịu đựng được đồng thời phải phù hợp với mức độ lợi nhuận mà ngân hàng thu được.
Các khái niệm và quan điểm về nợ xấu 1. Các khái niệm, quan điểm trên thế giới về nợ xấu Phải nói rằng có nhiều khái niệm về nợ xấu và không có một khái niệm duy nhất hay tối ưu nào về nợ xấu ; điều đó bắt nguồn từ sự khác biệt về kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia, bắt nguồn tư cách thức quản lý của cơ quan quản lý, bắt nguồn từ quan điểm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu. Thật vậy, định nghĩa phổ biến nhất về nợ xấu của IMF là “Các khoản nợ (và các tài sản khác) được phân loại là nợ xấu khi (1) khoản thanh toán nợ gốc và lãi đã quá hạn 3 tháng (90 ngày) hoặc hơn; hoặc (2) khoản thanh toán Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 9 lãi đã quá hạn 3 tháng (90 ngày) hoặc hơn đã được vốn hóa (tính gộp vào nợ gốc), tái cơ cấu hoặc được đảo nợ (hoặc các khoản thanh toán đã được trì hoãn theo thỏa thuận.” (Học viện ngân hàng, 2013) Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cho rằng “một khoản vay bị giảm giá trị khi có khả năng không thu hồi được toàn bộ khoản nợ đến hạn hoặc người vay đã không thể trả khoản nợ đến hạn quá 90 ngày” (Học viện ngân hàng, 2013) Còn Ngân hàng TW Châu âu thì lại định nghĩa “Nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM không chỉ có những khoản vay quá hạn thông thường không có khả năng thu hồi theo hợp đồng mà còn có các khoản vay chưa quá hạn nhưng tiềm ẩn các rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đủ gốc và lãi cho ngân hàng. Hoặc như theo các nhà nghiên cứu, với mục đích mô tả tổng quát nợ xấu thì các khái niệm đưa ra thường ngắn gọn và đơn giản; như theo Fofack thì “Nợ xấu là các khoản nợ không tạo ra thu nhập trong một thời gian dài” ; hay như theo Berger và DeYoung thì “nợ xấu là các khoản nợ có vấn đề (problem loans)” ; còn theo công ty kiểm toán Ernst & Young thì “nợ xấu là các khoản nợ không trả được(defaulted loans) mà NHTM không thể thu lợi từ nó”.
Khái niệm, quan điểm của Việt Nam về nợ xấu Đối với Việt Nam, trước năm 2005 thì khái niệm nợ xấu chưa thực sự rõ ràng mà lúc đó ta hay nói nhiều đến khái niệm nợ tồn đọng, nợ quá hạn. Sau khi NHNN Việt Nam ban hành quyết định số QĐ 493/2005/NHNN ngày 22/04/2005 Về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng thì cách tiếp cận về khái niệm nợ xấu mới được rõ ràng hơn; cụ thể nợ xấu được quy định tại mục 6 điều 2 của QĐ 493/2005/NHNN như sau: Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 6 hoặc Điều 7 (của quyết định QĐ 493/2005/NHNN) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 10 Tại quyết định QĐ 493/2005/NHNN ngày 22/04/2005 nói trên; các nội dung về phân loại nợ được quy định tại điều 6 (thường gọi là phân loại nợ theo tuổi nợ - hay còn gọi là theo bản chất khoản vay) và điều 7 (thường gọi là phân loại nợ theo phương pháp định tính - hay còn gọi là theo bản chất khách hàng); theo đó các tổ chức tín dụng phân loại nợ theo 5 nhóm; trong đó các nhóm nợ 3, 4, 5 còn được gọi tương ứng là Nợ dưới tiêu chuẩn, Nợ nghi ngờ, Nợ có khả năng mất vốn. Gần đây nhất; ngày 21/01/2013, NHNN Việt Nam có Thông tư 02/2013/TT-NHNN về Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng định nghĩa về nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5 (quy định tại mục 8 điều 3 của Thông tư) Như vậy, điểm đồng nhất chung của hai văn bản này là quy định Nợ xấu bao gồm các khoản nợ được phân vào Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). Tóm lại, có thể cách tiếp cận khác nhau và với các mục đích khác nhau (quản lý, nghiên cứu…) mà ta có các khái niệm khác nhau về nợ xấu; xong tựu trung lại các khoản nợ xấu có thể được nhận diện qua các nội dung cơ bản sau : (1) các khoản thanh toán nợ (gốc, lãi) quá hạn trên 90 ngày trở lên ; (2) có dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ xuất phát từ chính khoản nợ hoặc của người vay ; (3) khoản nợ và người vay bị xếp vào nhóm nợ có mức rủi ro cao (như nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 theo tiêu chí của Việt nam) 1.
Các phương pháp phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Trích lập dự phòng cho khoản vay là phương pháp các ngân hàng ghi nhận giá trị khoản vay về mức giá trị có thể thu hồi. Các mức độ rủi ro khác nhau sẽ chi phối đến các mức trích lập dự phòng rủi ro khác nhau; và các mức độ rủi ro khác nhau được cụ thể hóa qua việc phân loại theo các nhóm nợ khác nhau. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www. Các phương pháp phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của một số nước Ngoài các ngân hàng và các cơ quan giám sát, một số tổ chức quốc tế như IMF, WB cũng đưa ra các nhóm nợ và tiêu chí phân loại tương ứng.
Đối với IMF và WB, với tư cách là các tổ chức quốc tế lớn về tài chính, ngân hàng, đã đưa ra một số đặc điểm nhận biết để sắp xếp các khoản tín dụng khác nhau vào các nhóm khác nhau với chất lượng tín dụng khác nhau; cụ thể: Bảng 1. Phân loại nợ của IMF, WB Nhóm nợ Tiêu chí Không nghi ngờ về khả năng trả nợ; TSBĐ bằng tiền hoặc Đạt tiêu chuẩn tương đương tiền; Quá hạn dưới 90 ngày.