đặt vấn đề rằng thuế kinh doanh quốc tế là một vấn đề chính trị, xã hội và kinh tế quan trọng nhưng cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp do thuế thể hiện sự tương tác trực tiếp nhất giữa Chính phủ và công dân, nhà nước và nền kinh tế, tác giả tập trung nghiên cứu sự phát triển và hoạt động của thuế kinh doanh quốc tế ở mức độ đủ chi tiết để cung cấp hiểu biết đầy đủ về sự phức tạp của thuế kinh doanh quốc tế, đồng thời cũng đi sâu vào phân tích đủ để đưa ra 13 các vấn đề chính sách quan trọng. Tác giả đã chỉ ra nguồn gốc của đánh thuế trùng là do sự xung đột và khác biệt trong chính sách thuế giữa các quốc gia dẫn đến áp lực từ doanh nghiệp đối với việc loại bỏ thuế trùng. Từ đó, một hệ thống hợp tác về thuế giữa các nước đã ra đời dựa trên ba yếu tố. Thứ nhất, các hệ thống thuế quốc gia chấp nhận giới hạn áp dụng các quy định nội luật ở mức độ nhất định.
Thứ hai, sự hình thành một mạng lưới các hiệp định thuế song phương, dựa trên các Hiệp định thuế mẫu, được điều chỉnh cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế và chính trị của từng đối tác Hiệp định. Yếu tố thứ ba là sự lớn mạnh của một cộng đồng các chuyên gia tài chính quốc tế, bao gồm các quan chức chính phủ, chuyên gia học thuật và cố vấn kinh doanh hoặc đại diện. Chính họ là người đã nghĩ ra các Hiệp định thuế mẫu, đàm phán các hiệp định song phương thực tế dựa trên các Hiệp định thuế mẫu, rút kinh nghiệm từ đó để góp phần vào việc sửa đổi các Hiệp định thuế mẫu tiếp theo. Theo đó, việc phân bổ quyền đánh thuế cho mỗi quốc gia chủ yếu dựa trên nguyên tắc lợi nhuận kinh doanh của một công ty hoặc cơ sở thường trú có thể bị đánh thuế tại nguồn, trong khi lợi tức đầu tư chủ yếu phải chịu thuế theo quốc gia cư trú của chủ sở hữu hoặc nhà đầu tư.
Điều này đã dẫn đến sự bất đồng giữa các nước xuất khẩu vốn lớn, đặc biệt là Anh và Hoa Kỳ, và các nước khác chủ yếu là các nước nhập khẩu vốn. Các nước xuất khẩu vốn có quyền đánh thuế thu nhập toàn cầu của công dân hoặc đối tượng cư trú của họ, chỉ chịu một khoản khấu trừ cho các khoản thuế nước ngoài đã nộp hoặc miễn thu nhập bị đánh thuế: về mặt kinh tế, điều này nhằm đảm bảo tính công bằng trong việc đánh thuế thu nhập từ đầu tư trong nước và ở nước ngoài. Mặt khác, các nước nhập khẩu vốn nhấn mạnh họ có quyền tài phán riêng đối với hoạt động kinh doanh được thực hiện trong biên giới của họ, bất kể nguồn tài chính hay quyền sở hữu. Do đó, quyền đánh thuế của mỗi quốc gia đối với thu nhập có được từ các hoạt động kinh doanh quốc tế phụ thuộc lớn vào vị thế và khả năng thương lượng của mỗi quốc gia.
Thomas Rixen (2008), “The institutional design of international double taxation avoidance” [73], nghĩa là “Thiết kế thể chế về tránh đánh thuế hai lần quốc tế”. Bài viết đưa ra lập luận cơ bản là tránh đánh thuế hai lần thể hiện cấu 14 trúc chiến lược của trò chơi phối hợp với xung đột trong việc phân chia quyền đánh thuế. Việc phân bổ nguồn thu từ thuế phụ thuộc vào sự bất cân xứng của dòng đầu tư giữa các đối tác hiệp định. Vì các dòng đầu tư được xác định trong mối quan hệ đôi bên, thương lượng song phương có thể đáp ứng tốt nhất mối quan tâm của các quốc gia đối với việc phân bổ nguồn thu từ thuế và các lợi ích kinh tế khác liên quan đến cơ sở thuế.
Hơn nữa, do không có tác động của ngoại đối với với thỏa thuận song phương, nên giải pháp này cũng khả thi. Đồng thời, cần có một tổ chức đa phương phổ biến thông tin và chia sẻ thông lệ dưới hình thức một Hiệp định thuế mẫu cung cấp đầu mối cho các cuộc đàm phán song phương. Cấu trúc chiến lược của trò chơi phối hợp cũng có thể giải thích tại sao các thể chế tránh đánh thuế hai lần không cần phải có sự tác động của bên thứ ba. Thay vào đó, Thủ tục thỏa thuận song phương được hiểu là một công cụ để giải quyết thực tế là các hiệp định đánh thuế hai lần là những hợp đồng không đầy đủ.
* Nhóm công trình nghiên cứu chuyên sâu một hoặc một vài vấn đề trong lĩnh vực đánh thuế trùng Georg Kofler (2012) với bài báo có tiều đề “Indirect Credit versus Exemption: Double Taxation Relief for Intercompany Distributions” [37], nghĩa là “Cơ chế khấu trừ thuế gián tiếp so với cơ chế miễn thuế: Giảm thiểu đánh thuế trùng cho lợi nhuận phân phối giữa các công ty”. Bài viết thảo luận về xu hướng áp dụng cơ chế miễn thuế liên quan đến việc tránh đánh thuế hai lần đối với tiền lãi cổ phần thu được từ các khoản đầu tư trực tiếp và lưu ý rằng “xu hướng này tạo ra động lực riêng bởi vì những người nộp thuế theo cơ chế khấu trừ thuế cảm thấy bất lợi khi tất cả các đối thủ cạnh tranh đang được áp dụng cơ chế miễn thuế”. Bài viết kết luận rằng xu hướng quốc tế là miễn thuế đối với lợi nhuận được phân phối bởi các công ty con nước ngoài ở cấp công ty mẹ, với lý do chính của xu hướng này là sự gia tăng tính cạnh tranh của hệ thống thuế trong nước, tính đơn giản và phù hợp với những phát triển quốc tế gần đây. Tuy nhiên, bài viết cũng lưu ý hiệu quả kinh tế của việc áp dụng cơ chế miễn thuế hay khấu trừ thuế vẫn chưa được hiểu đầy đủ.
Đầu tiên, đó là một câu hỏi chưa được giải đáp về việc liệu vốn có thực sự chịu gánh nặng thuế doanh nghiệp hay không, vì vậy thậm chí 15 có thể nghi ngờ liệu việc miễn thuế ở cấp độ cổ đông có đúng đắn khi dựa trên giả định rằng tỷ lệ kinh tế của thuế là tính trên khoản đầu tư của họ hay không. Thứ hai, các lý thuyết kinh tế về tính trung lập hay bằng chứng thực nghiệm liên quan đến các rào cản về thuế đối với việc chuyển lợi nhuận về nước đều không đưa ra được chiều hướng rõ ràng cho việc áp dụng cơ chế miễn thuế hay khấu trừ thuế gián tiếp. Theo đó, lý do trung lập về kinh tế cũng đúng với việc giải quyết thuế trùng về mặt kinh tế đối với việc phân phối lợi nhuận giữa các công ty, nghĩa là không có sự lựa chọn hiển nhiên là áp dụng cơ chế miễn thuế hay cơ chế khấu trừ thuế gián tiếp cho trường hợp này. UN (2013) với ấn phẩm mang tên “UN Handbook on Selected Issues in Administration of Double Tax Treaties for Developing Countries” [76], nghĩa là “Sổ tay hướng dẫn của UN về một số vấn đề trong quản lý hiệp định thuế dành cho các nước tiếp nhận đầu tư”.
Sổ tay đề cập tới những vấn đề chủ chốt trong quản lý Hiệp định thuế và trình bày những thông lệ quốc tế tốt nhất để các nước tiếp nhận đầu tư có thể tìm hiểu và ứng dụng, trong đó có nội dung về giải quyết đánh thuế trùng. Theo hướng dẫn tại Sổ tay, quốc gia cư trú có nghĩa vụ miễn giảm thuế trùng đối với bất kỳ thu nhập nào phải chịu thuế một cách hợp pháp tại quốc gia nguồn theo quy định tại Điều 23 của cả Hiệp định thuế mẫu của UN và OECD. Điều 23 quy định áp dụng cơ chế miễn thuế hoặc khấu trừ đối với khoản thuế đã nộp cho quốc gia nguồn đối với thu nhập liên quan. Cả hai phương pháp này đều có những ưu nhược điểm và phát sinh các vấn đề liên quan đến việc áp dụng.
Do đó, hầu hết các quốc gia sử dụng đồng thời cả phương pháp miễn thuế và khấu trừ thuế để giảm thiểu việc đánh thuế trùng. Thường thì phương pháp miễn thuế được áp dụng đối với lợi nhuận kinh doanh thu được ở nước kia, trong khi phương pháp khấu trừ thuế được sử dụng cho các loại thu nhập khác. Nhóm tác giả Julia Braun and Martin Zagler (2014) với bài báo khoa học có tiêu đề “An Economic Perspective on Double Tax Treaties with(in) Developing Countries” [46], nghĩa là “Góc độ kinh tế về Hiệp định tránh đánh thuế hai lần đối với (ở) các nước tiếp nhận đầu tư”. Bài viết này áp dụng các phương pháp kinh tế lượng để phân tích dữ liệu tại các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần.
Trọng 16 tâm của phân tích nằm ở các nền kinh tế đang phát triển. Kết quả phân tích của bài viết đã đưa ra ba kết luận quan trọng. Thứ nhất, các yếu tố quyết định làm tăng khả năng các quốc gia ký hiệp định tránh đánh thuế hai lần là do quy mô thị trường và tìm kiếm thị trường (thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài) trong trường hợp các hiệp định giữa các nền kinh tế phát triển và đang phát triển. Quy mô thị trường và tiềm năng thị trường (được đo bằng mức độ mở cửa) được cho là quan trọng trong trường hợp hiệp định thuế giữa các nền kinh tế đang phát triển.
Đáng chú ý nhất, bằng chứng từ việc phân tích các dữ liệu cho thấy các nước công nghiệp phát triển có thể bù đắp cho các nước tiếp nhận đầu tư đối với khoản thất thu thuế do hiệp định thuế thông qua hỗ trợ phát triển chính thức. Thứ hai, thông qua nghiên cứu cụ thể một số hiệp định thuế, kết quả cho thấy yếu tố địa lý cũng có thể được tính đến, và sự gần nhau về mặt địa lý rõ ràng là làm tăng xác suất ký kết một hiệp định. Ngoài ra, tác động lan truyền từ các hiệp định thuế của các nước láng giềng có thể được xác định chắc chắn, cả từ nước nguồn cũng như nước cư trú, điều này làm tăng xác suất ký kết hiệp định. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nước có điểm chung về ngôn ngữ phổ biến và chung lịch sử (thuộc địa) cũng sẽ có khả năng cao là ký kết hiệp định thuế với nhau.
Thứ ba, động cơ ký kết hiệp định thuế được phân tích dựa trên sự cân bằng giữa khả năng gia tăng dòng vốn FDI và khả năng thất thu thuế TNDN. Bằng chứng cho thấy rõ ràng việc ký kết hiệp định thuế làm tăng dòng vốn FDI, trong khi bằng chứng về việc giảm thu thuế là không thực sự rõ ràng.