Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Trong chương này, luận văn giới thiệu tổng quan về toàn bộ bài nghiên cứu, bao gồm mục đích nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới, phương pháp nghiên cứu và cấu trúc của luận văn, nhằm cung cấp các thông tin cơ bản nhất cho người đọc. - Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của công nghệ thông tin tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển đổi số Trong chương 2, luận văn cung cấp các lý thuyết nền tảng về các chủ đề sẽ được nghiên cứu, bao gồm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, công nghệ thông tin và chuyển đổi số để làm tiền đề cho những nghiên cứu chi tiết trong chương sau. - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 12 Trong chương này, luận văn giới thiệu chi tiết quá trình nghiên cứu, bao gồm các thông tin quan trọng: mô hình nghiên cứu, các câu hỏi khảo sát và các giả thuyết nghiên cứu, và phương pháp phân tích, thu thập dữ liệu. - Chương 4: Thực trạng hiệu quả hoạt động của Viettel và bối cảnh chuyển đổi số tại các doanh nghiệp Việt Nam, xu hướng chuyển đổi số trên thế giới Trong chương thứ tư, luận văn tìm hiểu về thực trạng hiệu quả hoạt động tại Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội Viettel, đồng thời nghiên cứu về bối cảnh chuyển đổi số tại các doanh nghiệp Việt Nam và xu hướng chuyển đổi số trên thế giới nhằm xây dựng nền tảng trong việc phân tích, tổng hợp kết quả nghiên cứu và đưa ra các đề xuất đảm bảo tính thời sự, tính thực tiễn cao trong các chương tiếp theo - Chương 5: Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghệ thông tin tới hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội Viettel Trong chương 5, luận văn đi sâu vào việc phân tích kết quả nghiên cứu: kiểm định mô hình, các giả thuyết nghiên cứu dựa trên khảo sát đối với nhân sự tại Viettel, theo quy trình và cách thức nghiên cứu đã diễn giải trong chương 3 - Chương 6: Các giải pháp công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển dổi số Trong chương cuối cùng, luận văn tập trung vào việc cung cấp các đề xuất về công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả hoạt động cho Viettel nói chung cũng như các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng trong bối cảnh chuyển đổi số 13 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TỚI HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH CHUYỂN ĐỔI SỐ 2.1 Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm và phân loại hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Hiện nay, còn nhiều quan điểm chưa đồng nhất về khái niệm “hiệu quả hoạt động doanh nghiệp”, mỗi nhà nghiên cứu dựa vào góc độ nhìn nhận và cách tiếp cận khác nhau lại đưa ra một quan điểm khác nhau về khái niệm này.
Dựa vào cách tiếp cận của mình, Adam Smith (1776) nhận định: “Hiệu quả - Kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Theo quan điểm này, việc xác định hiệu quả kinh doanh chỉ đơn thuần dựa vào khả năng tiêu thụ sản phẩm. Có thể thấy quan điểm của Adam Smith đã bỏ qua yếu tố chi phí trong việc tính toán hiệu quả kinh doanh, do đó chưa phân định được rõ ràng giữa hiệu quả kinh doanh và kết quả kinh doanh. Quan điểm này cũng chỉ tập trung vào lĩnh vực kinh doanh chứ chưa xét đến các khía cạnh khác trong doanh nghiệp, xã hội.
Trong cuốn Kinh tế học (1948), Paul A. Samuelson đưa ra quan điểm: “Hiệu quả tức là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của con người”. Với cách tiếp cận này, tác giả đã nêu lên được đặc tính của khái niệm hiệu quả đó là sử dụng một cách tối ưu các nguồn lực, nhưng khái niệm còn chung chung và hướng tới đối tượng rộng. Tại Việt Nam, tác giả Phan Quang Niệm (2008) đã đưa ra nhận định:“Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề hiệu quả sản xuất.
Sản xuất kinh doanh có hiệu quả sẽ giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Hiểu theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi doanh nghiệp”. 14 Tác giả Nguyễn Văn Phúc (2016) cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là phạm trù phản ánh mối quan hệ giữa kết quả kinh doanh mà doanh nghiệp thu được với chi phí hoặc nguồn lực bỏ ra để đạt được kết quả đó, được thể hiện thông qua các chỉ tiêu về khả năng sinh lời của doanh nghiệp”.
Thông qua các khái niệm mà các nhà nghiên cứu trước đây đề ra, có thể thấy mặc dù đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau, các khái niệm đều được xoay quanh mối quan hệ giữa các nguồn lực bỏ ra đối với kết quả nhận được. Từ đó, có thể hiểu rằng: hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cần được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thường được phân loại dựa trên 3 quan điểm tiếp cận như sau: - Khía cạnh kinh tế: dựa trên quan điểm tiếp cận về lợi ích của nền kinh tế quốc dân, hiệu quả của doanh nghiệp xét trên khía cạnh kinh tế đánh giá về trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh tế, chẳng hạn như: tốc độ tăng trưởng kinh tế, tổng sản phẩm quốc nội, cán cân thương mại,.
- Khía cạnh xã hội: dựa trên quan điểm tiếp cận về lợi ích của xã hội, hiệu quả của doanh nghiệp xét trên khía cạnh xã hội đánh giá về trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu xã hội, chẳng hạn như: giải quyết công ăn, việc làm, nâng cao phúc lợi xã hội, nâng cao thu nhập người lao động,. - Khía cạnh kinh doanh: dựa trên quan điểm tiếp cận về lợi ích của nhà đầu tư, hiệu quả của doanh nghiệp xét trên khía cạnh kinh doanh đánh giá về trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh, chẳng hạn như: hiệu quả sử dụng chi phí, hiệu quả sử dụng lao động,. Như đã trình bày trong chương I, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu khía cạnh kinh doanh đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 2.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 2.1 Hiệu quả sử dụng tài sản 15 Tài sản của doanh nghiệp là toàn bộ phương tiện vật chất và phi vật chất phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động kinh doanh nằm đạt được các mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp. - Sức sản xuất của tài sản: Doanh thu Sức sản xuất của tài sản = Tài sản bình quân Chỉ tiêu này cho thấy mỗi đồng tài sản đã mang lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu.
Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng tài sản càng có hiệu quả. - Sức sinh lời của tài sản (ROA): Lợi nhuận Sức sinh lời của tài sản = Tài sản bình quân Chỉ tiêu này cho thấy cứ một đồng tài sản sẽ mang lai cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng tài sản càng có hiệu quả.2 Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp và bổ sung trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tăng chứng tỏ doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, có vị trí cao hơn trên thị trường và ngày càng có điều kiện mở rộng kinh doanh từ nguồn vốn của chính bản thân doanh nghiệp.
- Sức sản xuất của vốn chủ sở hữu: Doanh thu Sức sản xuất của vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu bình quân 16 Chỉ tiêu sức sản xuất của vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng hiệu quả của việc đầu tư từ mỗi đồng vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu. - Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE): Lợi nhuận Sức sinh lời của vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu bình quân Chỉ tiêu sức sinh lợi của vốn chủ sở hữ cho thấy cứ một đồng vốn chủ sở hữu doanh nghiệp bỏ ra thì sẽ thu lại được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế trong kỳ. Đây chính là chỉ tiêu ROE và là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất đối với người chủ doanh nghiệp.3 Hiệu quả sử dụng lao động Lao động là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của mỗi doanh nghiệp. Sử dụng lao động có hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp làm tăng khối lượng sản phẩm, tăng chất lượng dịch vụ, giảm chi phí sản xuất, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
Vì vậy, hiệu quả lao động là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Để đánh giá về khía cạnh này, các chỉ tiêu sau thường được dùng: - Sức sản xuất của lao động (năng suất lao động): Doanh thu Sức sản xuất của lao động = Tổng số lao động bình quân - Sức sinh lời của lao động: Lợi nhuận Sức sinh lời của lao động = Tổng số lao động bình quân 2.4 Hiệu quả sử dụng chi phí 17 Chi phí là một phạm quan trọng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào. Nghiên cứu về hiệu quả sử dụng chi phí giúp chúng ta biết được mỗi một đồng doanh nghiệp đầu tư sẽ mang lại bao nhiêu đồng doanh thu hay lợi nhuận. Cụ thể, chỉ tiêu này được tính toán theo công thức như sau: - Lợi tức đầu tư (ROI): Lợi nhuận Lợi tức đầu tư = Tổng chi phí 2.3 Tầm quan trọng của nâng cao hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp Như đã trình bày ở trên, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là vô cùng quan trọng, không chỉ đối với bản thân doanh nghiệp mà còn đối với người lao động trong doanh nghiệp cũng như đối với cả nền kinh tế.