Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÀNH CHÍNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 1. Khái niệm và đặc điểm xét xử vụ án hành chính Với các chức năng của ngành tư pháp trong NNPQ, hoạt động tố tụng của TAND giúp nâng cao chất lượng của các QĐHC, HVHC. Khi các CQHCNN biết rằng các QĐHC, HVHC của mình có thể bị TAND xem xét, kiểm tra tính hợp pháp, thì họ sẽ có trách nhiệm hơn trong việc ban hành các QĐHC, thực hiện các HVHC. Khi các cá nhân, tổ chức biết rằng các quyền và lợi ích hợp pháp của mình có thể được TAND bảo vệ khi bị xâm hại bởi các QĐHC, HVHC trái PL, thì họ sẽ có ý thức hơn trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, góp phần bảo đảm PL, chủ trương, thống nhất quản lý nhà nước.
Khái niệm xét xử vụ án hành chính Hiến pháp năm 2013 có những nội dung đổi mới đã phần nào đáp ứng được yêu cầu về cải cách nền tư pháp của đất nước. Trong đó, bảo vệ công lý và quyền con người là hai nhiệm vụ bổ sung mới nhưng được chú trọng mạnh, được xem là nhiệm vụ trước tiên của TAND, tiếp đến mới là các nhiệm vụ khác. Việc quy định này góp phần làm thay đổi nhận thức của người dân, giúp họ hiểu rõ hơn về TA và tin tưởng vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TA trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Trước đây, khiếu nại và hoạt động GQKN của công dân có thể trải qua 02 giai đoạn tương ứng với 02 hệ thống cơ quan giải quyết bằng 02 quy trình thủ tục khác nhau: Khiếu nại, do CQHCNN giải quyết theo thủ tục hành chính; khởi kiện, do TA giải quyết theo thủ tục tố tụng tư pháp.
Tuy nhiên, TA chỉ có thẩm quyền xem xét VAHC khi người khiếu kiện đã thực hiện quyền khiếu nại tại CQHCNN. Do đó, mỗi khi nhận đơn khiếu kiện VAHC của công dân, TA 9 muốn biết việc khởi kiện của công dân có thuộc thẩm quyền giải quyết của mình hay không để thụ lý vụ án thì bắt buộc phải kiểm tra cả quá trình khiếu nại và GQKN thông qua CQHCNN. Luật TTHC năm 2015 đã sửa đổi quy định về khiếu kiện hành chính, theo đó, cá nhân, tổ chức có quyền lựa chọn việc GQKN của mình bằng khiếu kiện VAHC tại TA ngay từ lần đầu mà không bắt buộc phải thực hiện khiếu nại tại CQHCNN. Vì thế, qua quá trình hoạt động thực tế của THC, dần dần trong tiềm thức và trong ngôn ngữ của các cơ quan tư pháp tại các Báo cáo chuyên đề, các Văn bản hướng dẫn nghiệp vụ, các Báo cáo công tác của TANDTC… người ta thường dùng khái niệm khiếu kiện hành chính để chỉ việc công dân khởi kiện VAHC tại TA.
Trong khuôn khổ đề án, khi nghiên cứu vấn đề xét xử sơ thẩm VAHC, khái niệm khiếu kiện hành chính được dùng theo cách hiểu này. Khiếu kiện hành chính là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu TA bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khỏi sự xâm hại bởi những QĐHC hoặc HVHC của CQHCNN hoặc người có thẩm quyền trong CQHCNN theo thủ tục do PL quy định. Tuy nhiên, việc khởi kiện ra TA của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình đang bị xâm phạm bởi các QĐHC, HVHC thì chưa đủ để phát sinh VAHC mà cần phải có sự thụ lý đơn khởi kiện của TA. Từ những phân tích trên, có thể hiểu xét xử VAHC là trình tự để TA nhân danh quyền lực NN trong phạm vi chức năng của mình tiến hành việc xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp của QĐHC, HVHC để giải quyết tranh chấp hành chính giữa các chủ thể quản lý NN với cá nhân, cơ quan, tổ chức theo trình tự, thủ tục do PL quy định nhằm bảo vệ lợi ích của NN, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
Đặc điểm xét xử vụ án hành chính Thứ nhất, trong VAHC chỉ có CQNN, CBCC có chức năng thuộc các CQHCNN mới là người bị kiện vì chỉ có họ mới có thể có những hành vi công quyền mà nếu trái PL gây thiệt hại đến các đối tượng có liên quan thì mới bị công dân phản ứng lại thông qua việc khởi kiện VAHC. Thứ hai, đối tượng xét xử các VAHC là QĐHC, HVHC. Thứ ba, khác với vụ án dân sự, kinh doanh thương mại, người bị kiện trong VAHC không thể trở thành người khởi kiện (không được quyền phản tố). Thứ tư, trước khi xét xử các VAHC thì người khiếu kiện thường đã thực hiện quyền khiếu nại được quy định trong Luật Khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướng dẫn như trình tự, thủ tục, thẩm quyền khiếu nại, GQKN, thời hiệu khiếu nại và khởi kiện, cũng như điều kiện khởi kiện VAHC lại được quy định riêng trong Luật đất đai, Luật TTHC, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân … và các văn bản hướng dẫn.
Thứ năm, trong quan hệ TTHC có sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ mà trước đó trong quan hệ quản lý hành chính, công dân bao giờ cũng là đối tượng bị quản lý. Điều kiện, thẩm quyền xét xử vụ án hành chính 1. Thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân Thứ nhất, khiếu kiện đối với QĐHC, HVHC của CQHCNN, người có thẩm quyền của CQHCNN trừ các quyết định, hành vi liên quan đến bí mật NN trong các lĩnh vực về quốc phòng, an ninh, ngoại giao hoặc mang tính nội bộ của một CQHCNN hay tổ chức hành chính nhà nước hoặc biện pháp do TAND áp dụng để xử lý hành chính đối với các hành vi cản trở hoạt động trong quá trình tố tụng; Thứ hai, Khiếu kiện QĐKLBTV công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống; 11 Thứ ba, khiếu kiện QĐGQKN của Hội đồng cạnh tranh khi xử lý các vụ việc liên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc quyết định của Bộ trưởng Bộ Công thương đối với quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh khi xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh; Thứ tư, khiếu kiện danh sách cử tri khi thực hiện thủ tục bầu cử. QĐHC là văn bản do CQHCNN, người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành, được giới hạn trong một số lĩnh vực nhất định thuộc quá trình hành pháp.
Đối tượng được ghi nhận trong QĐHC là cá nhân hoặc tổ chức có quyền và lợi ích bị ảnh hưởng trực tiếp. Theo định nghĩa trên, QĐHC thuộc đối tượng bị khiếu kiện hành chính được xác định trên cơ sở liệt kê, nghĩa là chỉ quy định đối với những loại QĐHC nào liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và được quan tâm chú ý nhiều hơn, hay bị khiếu kiện với khối lượng nhiều. Như vậy, phạm vi QĐHC theo PL TTHC hẹp và cụ thể hơn rất nhiều so với phạm vi QĐHC theo PL hành chính. HVHC là hành vi khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ của người có thẩm quyền trong CQHCNN, các cơ quan, tổ chức khác.
Đối tượng tác động của HVHC là cá nhân, tổ chức trực tiếp bị thiệt hại bởi chính hành vi đó gây nên hay không…Tuy nhiên, việc xác định hành vi bị khiếu kiện khi nào là của cơ quan, khi nào là của người có thẩm quyền trong CQHCNN, các cơ quan, tổ chức khác và khi nào là không thực hiện nhiệm vụ, công vụ phải căn cứ vào thẩm quyền và thời gian thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Hành vi được thực hiện theo sự phân công hoặc ủy quyền của CQHCNN, các cơ quan, tổ chức khác thì hành vi bị khiếu kiện là hành vi của cơ quan, tổ chức. Nếu hết thời hạn thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà CQHCNN, các cơ quan, tổ chức khác không thực hiện thì hành vi bị khiếu kiện vẫn là hành vi của cơ 12 quan đó, không phụ thuộc vào việc nhiệm vụ, công vụ đó được phân công, ủy quyền cho người nào hay thời gian nào. Hành vi được thực hiện khi đó là nhiệm vụ, công vụ của người có thẩm quyền trong CQHCNN, các cơ quan, tổ chức khác thì hành vi bị khiếu kiện là hành vi của người có thẩm quyền, không phụ thuộc vào việc họ trực tiếp thực hiện hay phân công, ủy quyền cho người khác thực hiện.
Nếu hết thời hạn thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà người có thẩm quyền vẫn không thực hiện thì hành vi bị khiếu kiện vẫn là hành vi của người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó. Điều kiện để khiếu kiện vụ án hành chính Cá nhân là người từ đủ mười tám tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực chủ thể theo PL có quyền khiếu kiện, yêu cầu TA bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi bị xâm phạm bởi một QĐHC, HVHC của CQHCNN, người có thẩm quyền của CQHCNN, cơ quan, tổ chức khác tức là khả năng nhận thức của bản thân người khiếu kiện, tự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia trong quá trình tố tụng. Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện, quyền và nghĩa vụ của họ được thực hiện thông qua người giám hộ. Nếu là cơ quan, tổ chức hoặc người chưa thành niên thì người đại diện PL hoặc người giám hộ sẽ thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ trong quá trình tố tụng.
Thời hiệu được quyền khiếu kiện để yêu cầu TA giải quyết là 01 năm khi người khiếu kiện nhận được hoặc biết được có QĐHC, HVHC, QĐKLBTV và 30 ngày khi người khiếu kiện nhận được QĐGQKN về xử lý vụ việc cạnh tranh hoặc trước ngày bầu cử 05 ngày mà người khiếu kiện nhận được thông báo kết quả GQKN của cơ quan lập danh sách cử tri hoặc kết thúc thời hạn nhưng vẫn 13 chưa nhận được kết quả giải quyết. Tuy nhiên, có một số trường hợp quá thời hạn có lý do chính đáng thì không tính vào thời hiệu khởi kiện.