Luận án tiến sĩ về tính hợp pháp và hợp lý trong văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng

Luận án tiến sĩ phân tích tính hợp pháp và hợp lý trong văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng, đóng góp quan trọng cho hệ thống pháp lý.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

271
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và tính cấp thiết của đề tài

Luận án tiến sĩ này tập trung vào tính hợp pháptính hợp lý trong văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của Bộ trưởng. VBQPPL của Bộ trưởng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các vấn đề chuyên môn, kỹ thuật, xuất phát từ chức năng quản lý nhà nước. Tuy nhiên, sự gia tăng số lượng VBQPPL và những lo ngại về tính khả thi, sự phù hợp với thực tiễn đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tuân thủ tính hợp pháptính hợp lý. Nghiên cứu này nhằm đánh giá và đề xuất giải pháp để nâng cao chất lượng VBQPPL của Bộ trưởng, đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền.

1.1. Vai trò của VBQPPL của Bộ trưởng

VBQPPL của Bộ trưởng là công cụ thiết yếu để thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Chúng giúp triển khai kịp thời các quy định pháp luật từ cơ quan cấp trên như Quốc hội, Chính phủ. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều VBQPPL chưa đáp ứng đầy đủ tính hợp pháptính hợp lý, dẫn đến tình trạng văn bản bất hợp pháp hoặc không phù hợp với thực tiễn.

1.2. Những thách thức trong thực tiễn

Các chủ thể xây dựng VBQPPL chưa nhận thức đầy đủ về tính hợp pháptính hợp lý. Đồng thời, cơ quan kiểm tra và xử lý VBQPPL cũng chưa thực hiện hiệu quả vai trò của mình. Điều này dẫn đến nhiều văn bản không đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân.

II. Cơ sở lý luận về tính hợp pháp và tính hợp lý

Luận án đưa ra cơ sở lý luận toàn diện về tính hợp pháptính hợp lý trong VBQPPL của Bộ trưởng. Tính hợp pháp đòi hỏi văn bản phải tuân thủ đúng quy định pháp luật, trong khi tính hợp lý yêu cầu văn bản phải phù hợp với thực tiễn và đáp ứng nhu cầu xã hội. Hai yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau trong việc đảm bảo chất lượng VBQPPL.

2.1. Khái niệm và đặc điểm của tính hợp pháp

Tính hợp pháp trong VBQPPL của Bộ trưởng được hiểu là sự tuân thủ các quy định pháp luật về nội dung, hình thức và thủ tục ban hành. Văn bản phải phù hợp với các quy định của Hiến pháp và các văn bản pháp luật có hiệu lực cao hơn.

2.2. Khái niệm và đặc điểm của tính hợp lý

Tính hợp lý yêu cầu VBQPPL phải phù hợp với thực tiễn đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội. Văn bản cần có mục đích chính đáng, biện pháp phù hợp và đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình thực thi.

III. Yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý trong VBQPPL

Luận án xác định các yêu cầu cụ thể về tính hợp pháptính hợp lý đối với VBQPPL của Bộ trưởng. Các yêu cầu này bao gồm việc đảm bảo nội dung văn bản phù hợp với thẩm quyền, không mâu thuẫn với các văn bản pháp luật khác, và đáp ứng các đòi hỏi của thực tiễn.

3.1. Yêu cầu về nội dung

VBQPPL của Bộ trưởng phải giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi thẩm quyền, không quy định lại nội dung đã có trong các văn bản khác. Đồng thời, văn bản cần có tính cụ thể, phân hóa theo đối tượng và vấn đề thực hiện.

3.2. Yêu cầu về hình thức

Về hình thức, VBQPPL phải tuân thủ các quy định về thể thức, ngôn ngữ và cấu trúc. Điều này giúp đảm bảo tính minh bạch và dễ hiểu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi.

IV. Giải pháp tăng cường tính hợp pháp và tính hợp lý

Luận án đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường tính hợp pháptính hợp lý trong VBQPPL của Bộ trưởng. Các giải pháp bao gồm việc nâng cao nhận thức của các chủ thể ban hành văn bản, cải thiện quy trình kiểm tra, và áp dụng các kinh nghiệm từ các quốc gia dân chủ tiến bộ.

4.1. Nâng cao nhận thức và năng lực

Cần tăng cường đào tạo và nâng cao nhận thức của các chủ thể ban hành VBQPPL về tính hợp pháptính hợp lý. Đồng thời, cần xây dựng các hướng dẫn cụ thể để đảm bảo văn bản đáp ứng các yêu cầu này.

4.2. Cải thiện quy trình kiểm tra

Cơ quan kiểm tra cần thực hiện hiệu quả vai trò của mình trong việc đánh giá và xử lý các VBQPPL không đáp ứng tính hợp pháptính hợp lý. Điều này giúp hạn chế tình trạng văn bản bất hợp pháp hoặc không phù hợp với thực tiễn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ tính hợp pháp và tính hợp lý đối với văn bản quy phạm pháp luật của bộ trưởng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên cơ sở mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án, tác giả tìm kiếm các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài với các hướng nghiên cứu chủ yếu sau: một là, hướng nghiên cứu về VBQPPL nói chung trong luật hành chính các nước – thường đề cập đến các vấn đề như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung VBQPPL do các chủ thể trong bộ máy hành chính nhà nước ban hành, bao gồm cả bộ trưởng; hai là, hướng nghiên cứu về VBQPPL dưới luật (văn bản được ủy quyền lập pháp) trong mối tương quan với các học thuyết pháp lý như học thuyết ủy quyền lập pháp (delegated legislation)…; ba là, hướng nghiên cứu về THP và THL trong pháp luật hành chính.

Tác giả đã tập hợp, chọn lọc các nội dung của các công trình có liên quan mật thiết đến nội dung Luận án theo những vấn đề nghiên cứu sau đây: 1. Về khái niệm, đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của bộ trưởng Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu phân tích về khái niệm, đặc điểm VBQPPL do bộ trưởng (và các chủ thể tương đương) ban hành theo pháp luật thực định của một quốc gia cụ thể hoặc trong mối quan hệ so sánh với một số quốc gia khác. Theo đó, khái niệm, đặc điểm về VBQPPL của bộ trưởng được thể hiện như sau: - VBQPPL do bộ trưởng (bộ) và các chủ thể khác của bộ máy hành chính trung ương ban hành có tính bắt buộc chung và phải tuân theo thủ tục do pháp luật quy định. Một số công trình sau đề cập về vấn đề này: tác phẩm của John D.

Franklin (2010), Legislative Rules, Nonlegislative Rules, and the Perils of the Short Cut, The Yale law journal, number 120, p. Watts (2015), Rulemaking as legislating, The Georgetown law journal, Vol.1003-1060 đều cho rằng: VBQPPL – văn bản có tính chất lập pháp (legislative rules) được thiết kế để có hiệu lực pháp lý bắt buộc với các đối tượng mà nó điều chỉnh; các văn bản này phải trải qua quy trình mà pháp luật quy định. Tương tự, các tác giả William F. Seamon (2016), Administrative law, Fifth Edition, Wolters Kluwer in New York và Todd Garvey (2017), A Brief Overview of Rulemaking and Judicial Review, Congressional Research Service cũng khẳng định: các VBQPPL do bộ và chủ thể khác ban hành (legislative rules) khác với các văn bản không có tính chất lập pháp (non – legislative rules) vì chúng được ban hành thông qua quy trình do pháp luật quy định, có tính bắt buộc và có hiệu lực của pháp luật.

- VBQPPL do bộ trưởng ban hành có tính dưới luật, thực hiện hoạt động ủy quyền lập pháp (delegated legislation) từ nghị viện, quốc hội. Các tác phẩm của (1) Rumki Basu (2004), Public Administration: Concepts And Theories, Fifth Revised and Enlarged Edition 2004, Sterling Publisher Private Limited; (2) Raymond Youngs (2014), English, French & German Comparative Law, Third Edition, Routledge; hay (3) Harry Evans (2016), Odgers’ Australian Senate Practice, 7 14th Edition, Can Print Communications Pty Ltd, Canberra đều cho rằng VBQPPL do bộ trưởng ban hành có tính dưới luật, nó sẽ vô hiệu nếu vi phạm các văn bản luật của quốc hội (nghị viện) hoặc vi phạm quyền lực được cấp theo đạo luật và đều đề cập về vấn đề ủy quyền lập pháp từ quốc hội (nghị viện) cho các cơ quan hành chính, trong đó có bộ trưởng, theo đó, VBQPPL của bộ trưởng được xem là thực hiện quyền lực “phái sinh”, không phải là quyền “ban đầu”. - VBQPPL của bộ trưởng dùng để quy định chi tiết luật, chỉ được ban hành khi được giao quyền (ủy quyền cụ thể từ luật của nghị viện hoặc các cơ quan cấp trên khác). Theo quan điểm này có pháp luật Đức: các VBQPPL (Rechtsverordnungen) do bộ trưởng và một số chủ thể khác ban hành theo Điều 80 Hiến pháp phải tuân thủ các tiêu chuẩn về thủ tục và nội dung, trong đó “luật trao quyền phải xác định rõ nội dung, phạm vi và mục đích” thì mới là VBQPPL – có tính bắt buộc chung và tác động ra bên ngoài; còn các hướng dẫn hành chính (Verwaltungsvorschriften) chỉ tác động trong phạm vi nội bộ mặc dù cũng đặt ra quy tắc xử sự chung5.

Những nội dung này thể hiện trong các công trình của: (1) Mahendra P. Miller, Peer Zumbansen (2006), Annual of German & European Law, Volumes 2-3, Berghahn Books. - Bộ trưởng ngoài ban hành VBQPPL khi được giao quyền cụ thể bởi VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn thì còn quyền ban hành VBQPPL để thực hiện chức năng quản lý vốn có theo thẩm quyền của họ. Về pháp luật Trung Quốc nội dung này thể hiện trong tác phẩm của Jerome A.

Cohen (2000), The Rule of Law Perspectives from the Pacific Rim, The Mansfield Center For Pacific Affairs theo đó, các bộ của Quốc vụ viện Trung Quốc có quyền ban hành các VBQPPL hành chính (administrative rules) theo Điều 90 của Hiến pháp. Các VBQPPL này có hai loại, một là, dựa trên quyền lực cố hữu của các bộ để: (1) thực hiện pháp luật, (2) giải thích pháp luật; và hai là, dựa trên sự ủy quyền, tức là thẩm quyền được giao cụ thể. Do đó, các cơ quan sẽ có quyền đưa ra quy định mà có hoặc không có sự giao quyền từ cơ quan lập pháp. Cuốn của Yang Feng (2016), Legislative Decentralization in China in the Reform Era – Progress and Limitations, Erasmus University Rotterdam cũng trình bày nội dung tương tự.

Ở Nhật Bản, tác giả Hiroshi Oda (2009), Japanese Law, Third Edition, Oxford University Press đề cập về thẩm quyền ban hành VBQPPL của bộ trưởng, gọi là “pháp lệnh” (ordinance) cũng bao gồm hai loại thẩm quyền trên. Về tính hợp pháp Các công trình chủ yếu nghiên cứu về THP đối với quyết định hành chính, VBQPPL do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành, bao gồm cả bộ trưởng, theo pháp luật thực định của một hoặc một số quốc gia cụ thể. Đây là nguồn tài liệu tham khảo 5 Điều 69 Quy định chung về thủ tục của các Bộ liên bang – The Rule 62 of the Joint Rules of Procedure of the Federal Ministries (Gemeinsame Geschäftsordnung der Bundesministerien – GGO) của Đức quy định: “Các văn bản có chứa các quy định chung và trừu tượng, có hiệu lực ràng buộc trong phạm vi nội bộ phải được xếp loại là “văn bản hành chính” (Verwaltungsvorschriften). Xem văn bản: http://www.verwaltungsvorschriften-im- internet.htm, truy cập ngày 10/3/2019.

8 hữu ích để tác giả phân tích, tiếp thu có chọn lọc các vấn đề lý luận về khái niệm, vai trò cũng như các tiêu chí đánh giá THP. Cụ thể như sau: 1. Về khái niệm tính hợp pháp Thứ nhất, THP của một quyết định hành chính hay VBQPPL được hiểu là sự phù hợp với quy định pháp luật, tuân theo quy định pháp luật, không trái pháp luật. Nội dung này thể hiện trong các tác phẩm như: (1) Bernard Schwartz (2006), French Administrative Law and the Common-law World, The Lawbook Exchange, LTD.

Clark, New Jersey; (2) Christopher Forsyth, William Wade (2014), Administrative Law, Eleven Edition, Oxford University Press. Thứ hai, pháp luật trong từ “hợp pháp” được hiểu không chỉ là hiến pháp, luật do cơ quan lập pháp ban hành mà còn bao gồm tất cả các VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, các nguyên tắc pháp luật, án lệ của tòa án. Theo quan điểm này có tác giả George A. Bermann, Etienne Picard (2008), Introduction to French Law, Wolters Kluwer.

Tác giả cho rằng, các quyết định cá biệt và VBQPPL được ban hành bởi các cơ quan hành chính nhà nước thấp hơn về thứ hạng so với luật, nên bắt buộc phải tuân theo luật. Cũng theo tác giả, về nguyên tắc chung, “pháp luật” ở đây bao gồm tất các QPPL (norms) cao hơn, trong thứ bậc hệ thống quy phạm so với QPPL mà có THP bị đe dọa. QPPL cao hơn không chỉ bao gồm có luật của Nghị viện, mà còn của các cơ quan hành chính cao hơn; pháp luật còn bao gồm cả những điều ước quốc tế; đáng chú ý hơn, khái niệm về THP cũng bao gồm nhiều nguyên tắc và quy tắc bất thành văn. Theo quan điểm tương tự có các bài viết: (1) Chan Sek Keong (2010), Judicial Review – From Angst to Empathy, Singapore Academy of Law Journal, 22, p.469-489; (2) Ana Raquel Gonçalves Moniz (2015), The Rulemaking Power of Administrative Agencies: Crisis of Legality, Rule of Law and Democracy, Coimbra Business Review, December, volume 1, number 1, p.

Về vai trò của tính hợp pháp Một là, THP có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm yêu cầu của nguyên tắc pháp quyền (rule of law). Van der Merwe, J. Du Plessis (2004), Introduction to the Law of South Africa, Kluwers law international cho rằng: nguyên tắc hợp pháp chính là một thành phần của học thuyết về nhà nước pháp quyền. Tác phẩm của Timothy Endicott (2015), Administrative Law, Third Edition, Oxford University Press khẳng định: nguyên tắc hợp pháp là yêu cầu trung tâm của nguyên tắc pháp quyền.

Tương tư, theo tác giả Neil Parpworth (2012), Constitutional and Administrative Law, Seventh Edition, Oxford University Press, United Kingdom thì nguyên tắc hợp pháp là một khía cạnh của khái niệm rộng hơn đó là nguyên tắc pháp quyền. Sự hiện diện của nó giúp bảo đảm rằng pháp luật trong nhà nước pháp quyền như là một cơ sở để bảo vệ chống lại sự vi phạm các quyền cá nhân. Cũng theo quan niệm cho rằng nguyên tắc hợp pháp trong luật hành chính chính là cơ sở bảo đảm cho yêu cầu cơ bản của nhà nước pháp quyền còn có bài viết của: (1) Alexandru Stoian, Teodora Drăghici (2015), The Principle of legality, principle of public 9 law, International Conference Knowledgle-Based Organization, Vol, XXI, No 2, p.512- 515; (2) John Mark Keyes (2015), Judicial Review of Delegated Legislation: Whatever Happened to the Standard of Review?, Working Paper Series, January, p.1-39; (3) Jaclyn L NEO (2017), All Power has Legal Limits, The Principle of Legality as a Constitutional Principle of Judicial Review, Singapore Academy of Law Journal, 29, p. Hai là, THP là cơ sở để giúp hạn chế sự chuyên quyền, tùy tiện của các cơ quan hành chính trong việc ban hành quyết định hành chính, VBQPPL.

Công trình nghiên cứu của Colleen Flood & Lorne Sossin (2008), Administrative Law In Context, Emond Montgomery Publishing, Toronto cho rằng: nguyên tắc hợp pháp giúp truyền đạt một cách trực tiếp rằng pháp luật phải luôn là căn cứ cho việc sử dụng quyền lực công cộng và giúp hạn chế nguy cơ sử dụng quyền lực công cộng một cách tùy tiện. Cũng theo quan điểm này có bài viết của Mirko Pecaric (2011), Delegated Legislation – A Mixture of General Principles of Law and an Individual Mind, Vienna J. on Int'l Const. Về các yêu cầu của tính hợp pháp Đa số các công trình cho rằng các yêu cầu của THP được xem xét ở hai mặt là về nội dung và về thủ tục.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Tính hợp pháp và hợp lý trong văn bản quy phạm pháp luật của Bộ trưởng là một nghiên cứu chuyên sâu về việc đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý trong các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng ban hành. Tài liệu này phân tích các yếu tố pháp lý, quy trình soạn thảo, và thẩm quyền của Bộ trưởng trong việc xây dựng văn bản pháp luật, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các văn bản này. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà nghiên cứu, luật sư, và cán bộ quản lý nhà nước, giúp họ hiểu rõ hơn về quy trình và nguyên tắc xây dựng pháp luật.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn thành phố Hà Nội, nghiên cứu về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra văn bản pháp luật. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ và Chính phủ theo Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 cung cấp cái nhìn sâu sắc về thẩm quyền pháp lý của các cơ quan hành pháp. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân quận theo mô hình chính quyền đô thị của thành phố Hà Nội sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của các cơ quan nhà nước ở cấp địa phương.