Chương 1. Những van dé lý luận và pháp luật về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác Chương 2. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 Chương 3. Thực tiễn xét xử và một số giải pháp áp dụng đúng quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với tội có ý gây thương tích hoặc gây tôn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn thành phố Hà Nội 8 CHUONG 1: NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VA PHÁP LUAT VE TOI CÓ Ý GAY THUONG TÍCH HOẶC GAY TON HAI CHO SỨC KHỎE CUA NGƯỜI KHAC 1.
Khái niệm, đặc điểm của tội có ý gây thương tích hoặc gây ton hại cho sức khóe của người khác 1. Khái niệm tội cỗ ý gây thương tích hoặc gây ton hại cho sức khỏe của người khác Trong các BLHS Việt Nam từ năm 1895 đến nay, chưa có định nghĩa cụ thê về tội cô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Tuy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà trong khoa học pháp lý hình sự xuất hiện nhiều khái niệm khác nhau về tội nay được đưa ra như: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tốn hại sức khỏe của người khác là hành vi cỗ ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà theo tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng không thuộc các trường hợp do BLHS quy định ”2 “Tội cô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác là hành vi tác động trái pháp luật đến thân thể của người khác gây thiệt hại về sức khỏe cho người khác dưới dạng thương tích hoặc tốn hại về sức khỏe trong các trường hợp luật định” “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây ton hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý gây ton hại cho sức khỏe của người khác dưới dạng thương tích hoặc ton thương khác ”“ ? Trường Đại học Huế (2008), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, phần các tội phạm, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 3 Trường Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh,Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, phần các tội phạm, NXB Hồng Đức, Hội luật gia Việt Nam, Tp. * Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, phần các tội phạm, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 9 Nhìn chung, các định nghĩa này đều nêu lên các khía cạnh co ban dé cau thành tội cô ý gây thương tích hoặc gây ton hại cho sức khỏe của người khác. Tuy nhiên, dé làm sâu sắc hơn khái niệm này, cần phân tích những nội dung cụ thé trong đó dé hiểu một cách đúng dan hơn về tội phạm nay, cụ thé là làm rõ khái niệm “sức khỏe” và “gây thương tích, tổn hai cho sức khỏe”.
Từ dién tiếng Việt định nghĩa: “Sức khỏe là trạng thái không có bệnh tật, cảm thấy thoải mái về thể chất, thư thái về tỉnh thần "5. Người khỏe mạnh là khi người đó hoàn toàn thoải mái về mặt thê chất (hoạt động thé luc, cơ thé bên trong, hinh dang bén ngoài. tat cả đều ở trạng thái tốt nhất, phù hợp với độ tuổi của minh) cũng như thư thái về mặt tinh thần và nhiều mặt khác. Vì vậy, sức khỏe của con người là tình trạng sức lực của con người đang sống trong điều kiện bình thường, ồn định, trạng thái tâm — sinh lý, sự hoạt động hài hòa trong cơ thê về cả tỉnh thần và cơ bắp, tạo nên khả năng chống lại bệnh tật.
Trên cơ sở này, hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác được hiéu là hành vi dùng tác động ngoại lực hoặc bat kỳ hình thức nao gây ra những tốn thương ở các bộ phận trong cơ thé, gây bệnh tật, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của người đó, làm cho người đó tôn hại đến khả năng suy nghĩ, sáng tạo, hành động, sinh hoạt hăng ngày,. Còn theo Từ điền luật học thì “cố ý gáy thương tích ” là hành vi cỗ ý xâm phạm thân thé, gây tổn hại cho sức khỏe người khác đưới dang thương tích cụ thể.” Trong 3450 thuật ngữ pháp lý phô thông của tác giả Nguyễn Ngọc Điệp, “gây ton hại cho sức khỏe của người khác ” được hiểu là hành vi dùng thủ đoạn tác động vào cơ thé nạn nhân làm mat hoặc giảm chức năng các bộ phận (cơ quan) trên cơ thê nạn nhan.® Như vậy, trên cơ sở phân tích, đánh giá các định nghĩa khác nhau về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tôn hai cho sức khoẻ của người khác, chúng tôi có thé đưa ra khái niệm về tội này như sau: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tốn hại cho sức khoẻ của người khác là hành vi cô ý xâm phạm thân thể, tác động trái pháp luật đến cơ thể của người khác gây ra những ton thương về thé chất dưới dang dạng thương tích hoặc ton hại về sức khoẻ, > Viện Ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Da Nẵng, tr. 5 Báo Sức khỏe, “Định nghĩa sức khỏe toàn diện ” 7 Bộ Tư pháp —Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb Tư pháp, tr. 8 Nguyễn Ngọc Điệp (2009), 3450 thuật ngữ pháp lý phổ thông, Nxb Giao thông vận tải, tr.
10 do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, du tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật và phải chịu trách nhiệm hình sự. Đặc điểm của tội cô ý gây thương tích hoặc gây ton hại cho sức khỏe của người khác Thứ nhất, tội cỗ ý gây thương tích hoặc gây tốn hại cho sức khỏe của người khác xâm phạm quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người. Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyên sống. Tính mang con người được pháp luật bảo hộ.
Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Bat cứ ai đang sinh sống, cư trú trên lãnh thổ Việt Nam và đủ điều kiện được pháp luật Việt Nam bảo hộ thì đều được bảo đảm về sức khỏe, tính mạng. Một khi có hành vi xâm phạm, gây thương tích, gây ton hại cho sức khỏe của người khác sẽ bị coi là tội phạm được quy định tại Điều 134 BLHS 2015. Điều luật này quy định rõ ràng về hành vi, thủ đoạn cũng như hình phạt đối với người phạm tội này.
Thứ: hai, hành vi khách quan của tội phạm là hành vi tác động trái pháp luật đến thân thé của người khác. Biểu hiện của chúng rất đa dang, có thé sử dụng công cụ, phương tiện (dao, mác, gậy, gạch, đá.) hoặc không sử dụng công cụ, phương tiện (dùng tay chân dam, đá.) nhằm gây nhăm gây thương tích hoặc gây tốn hai cho sức khoẻ của người khác. Thứ ba, hậu quả của tội phạm này là thương tích hoặc tôn hại về sức khỏe. Trong đó, thương tích là những dấu vết vết thương để lại trên co thé người như vết rách, vết bam, gãy chân, tay, mù mắt.
còn tốn hại cho sức khỏe thé hiện qua sự rỗi loạn hoặc suy giảm về chức năng hoạt động của các bộ phận trong cơ thé mà không dé lại những vết thương trên cơ thé, vi dụ như sự rối loạn hệ tiêu hóa, sự suy giảm thính giác. Vì tội cố ý gây thương tích hoặc gây tôn hai cho sức khỏe của người khác có cau thành tội phạm vật chất nên hậu quả thương tích hoặc tôn hại cho sức khỏe là dấu hiệu pháp lý bắt buộc. Thứ tw, việc định tội danh của tội phạm nay được xét dựa trên tỉ lệ thương tat từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Khoản ? Quốc hội (2013) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Khoản 3 Điều 19. 11 1 Điều 134, từ điểm a đến điểm k, bao gồm: Dùng vũ khí, vật liệu nỗ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; Dùng axit nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; Đối với người đưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết có thai, người già yếu, 6m đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ; Đối với ông ba, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình; có tô chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào co sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tôn hại sức khỏe do được thuê; Có tính chất côn đồ; Tái phạm nguy hiêm; Đôi với người đang thi hành công vụ hoặc vi lý do công vụ của nạn nhân.!9 Trường hợp hậu quả dẫn đến chết người được quy định trong Khoản 5 và Khoản 6 BLHS 2015, được hiểu là, về mặt chủ quan, người phạm tội chỉ cô ý đối với việc gây thương tích chứ không mong muốn nạn nhân chết.
Khi thực hiện tội phạm, người phạm tội không hoặc chưa nhận thức được hau quả giêt người có thê xảy ra. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam quy định về tội có ý gây thương tích hoặc gây ton hại cho sức khỏe của người khác từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015 1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 Ở giai đoạn 10 năm sau cách mạng tháng Tám (1945 - 1955), Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân non trẻ vừa ra đời đã phải cùng lúc tổ chức đời sống kinh tế cho nhân dân đồng thời duy trì cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ. Trong thời gian này, các văn bản quy phạm pháp luật chưa được chính thức đề cập trong bat kỳ một quy phạm PLHS nao, ngoài một sỐ thông tư, sắc lệnh, nghị định 10 Khoản 1 Điều 134 BLHS 2015.
12 đầu tiên của chính quyền. Những văn bản này đã đặt nền móng dé xây dựng pháp lý hình sự về mặt lập pháp, hình thành các quy định của PLHS sau này. Đề duy trì sự ôn định của nhà nước nói chung, trong thời kỳ này nhà nước đã ban hành một số Sắc lệnh, Nghị định, Thông tư.