Luận án tiến sĩ nghiên cứu chế định thủ tướng chính phủ ở Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích chế định Thủ tướng Chính phủ tại Việt Nam, làm rõ vai trò, quyền hạn và cơ chế hoạt động trong hệ thống chính trị.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

239
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chế định thủ tướng chính phủ

Chế định thủ tướng chính phủ là một trong những chế định quan trọng trong hệ thống chính trịquản lý nhà nước tại Việt Nam. Luận án tiến sĩ này tập trung phân tích các khía cạnh lý luận và thực tiễn của chế định này, từ vai trò, chức năng đến quyền hạn và trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ. Luận án tiến sĩ này cũng đánh giá sự phát triển của chế định qua các giai đoạn lịch sử, đặc biệt là từ Hiến pháp 1992 đến Hiến pháp 2013, và các văn bản pháp luật liên quan như Luật Tổ chức Chính phủ 2015.

1.1. Khái niệm và vai trò của Thủ tướng Chính phủ

Thủ tướng Chính phủ được định nghĩa là người đứng đầu Chính phủ, có vai trò lãnh đạo và điều hành hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước. Vai trò của Thủ tướng không chỉ giới hạn trong việc điều hành nội bộ Chính phủ mà còn liên quan đến việc thực thi quyền hành pháp và phối hợp với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Luận án tiến sĩ này nhấn mạnh sự cần thiết của việc làm rõ khái niệm và vai trò của Thủ tướng trong bối cảnh chính trị họcluật học hiện đại.

1.2. Lịch sử phát triển chế định Thủ tướng Chính phủ

Chế định Thủ tướng Chính phủ tại Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013. Mỗi giai đoạn lịch sử đều có những điều chỉnh phù hợp với bối cảnh chính trị và kinh tế của đất nước. Luận án tiến sĩ này phân tích sự tiến hóa của chế định qua các bản Hiến pháp, từ việc xác định vị trí pháp lý đến việc mở rộng quyền hạn và trách nhiệm của Thủ tướng. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước.

II. Vị trí pháp lý và quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ

Vị trí pháp lý của Thủ tướng Chính phủ được xác định rõ ràng trong Hiến pháp 2013 và các văn bản pháp luật liên quan. Thủ tướng không chỉ là người đứng đầu Chính phủ mà còn có vai trò quan trọng trong việc thực thi quyền hành pháp và điều hành hệ thống hành chính nhà nước. Luận án tiến sĩ này phân tích các quy định pháp luật hiện hành về quyền hạn và nhiệm vụ của Thủ tướng, đồng thời đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định này.

2.1. Vị trí pháp lý của Thủ tướng trong Hiến pháp 2013

Theo Hiến pháp 2013, Thủ tướng Chính phủ là người đứng đầu Chính phủ, có vai trò lãnh đạo và điều hành hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước. Luận án tiến sĩ này nhấn mạnh sự thay đổi trong việc xác định vị trí pháp lý của Thủ tướng, từ việc chỉ là người đứng đầu Hội đồng Bộ trưởng (theo Hiến pháp 1980) đến việc trở thành người đứng đầu Chính phủ với quyền hạn rộng hơn. Điều này phản ánh sự tiến bộ trong việc phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước.

2.2. Quyền hạn và nhiệm vụ của Thủ tướng

Thủ tướng Chính phủ có nhiều quyền hạn quan trọng, bao gồm việc đề xuất các chính sách quốc gia, điều hành hoạt động của Chính phủ, và phối hợp với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Luận án tiến sĩ này phân tích các quy định pháp luật hiện hành về quyền hạn và nhiệm vụ của Thủ tướng, đồng thời đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định này. Đặc biệt, luận án chỉ ra những bất cập trong việc phân định thẩm quyền giữa tập thể Chính phủ và cá nhân Thủ tướng.

III. Thực trạng và giải pháp hoàn thiện chế định Thủ tướng Chính phủ

Luận án tiến sĩ này đánh giá thực trạng thực hiện chế định Thủ tướng Chính phủ tại Việt Nam, từ việc thực thi quyền hạn đến trách nhiệm của Thủ tướng. Luận án cũng đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chế định này, bao gồm việc tăng cường vai trò và trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng, cải thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước.

3.1. Thực trạng thực hiện chế định Thủ tướng Chính phủ

Thực tiễn thực hiện chế định Thủ tướng Chính phủ tại Việt Nam cho thấy nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc phân định thẩm quyền giữa tập thể Chính phủ và cá nhân Thủ tướng. Luận án tiến sĩ này phân tích các vấn đề phát sinh trong quá trình thực thi quyền hạn và trách nhiệm của Thủ tướng, đồng thời chỉ ra những bất cập trong cơ chế kiểm soát quyền lực. Đặc biệt, luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc minh bạch hóa chế độ trách nhiệm của Thủ tướng.

3.2. Giải pháp hoàn thiện chế định Thủ tướng Chính phủ

Để hoàn thiện chế định Thủ tướng Chính phủ, luận án tiến sĩ này đề xuất một số giải pháp cụ thể, bao gồm việc tăng cường vai trò và trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng, cải thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước. Luận án cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác trong việc xây dựng và thực thi chế định Thủ tướng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ chế định thủ tướng chính phủ ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

đặt vấn đề tăng cƣờng vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cá nhân của TTCP trên nền tảng của nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nƣớc đồng thời với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ từ chế độ tập thể lãnh đạo kết hợp với cá nhân phụ trách sang chế độ Thủ tƣớng. Cơ cấu của luận án: Luận án đƣợc cơ cấu thành 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chƣơng 2: Cơ sở lý luận của chế định Thủ tƣớng Chính phủ Chƣơng 3: Vị trí pháp lý của Thủ tƣớng Chính phủ ở Việt Nam Chƣơng 4: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ tƣớng Chính phủ ở Việt Nam Chƣơng 5: Quan điểm, phƣơng hƣớng và những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chế định Thủ tƣớng Chính phủ ở Việt Nam hiện nay. 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài liên quan đến đề tài luận án Các công trình nghiên cứu về TTCP ở nƣớc ngoài khá nhiều, khá phong phú, đa dạng nhƣng tựu trung thƣờng diễn ra theo hai xu hƣớng chủ yếu: Một là, nghiên cứu về TTCP ở các quốc gia cụ thể.

Theo đó, đƣợc chú ý nhiều nhất là TTCP của các quốc gia phƣơng Tây, nhƣ Anh, Pháp, Đức, Canada. Vì trong các nền dân chủ phƣơng Tây, trên nền tảng nguyên tắc phân chia quyền lực, ngƣời đứng đầu Chính phủ thƣờng là ngƣời đứng đầu hành pháp, gắn liền với hình ảnh cá nhân quyền lực, năng động và chịu trách nhiệm. Ngƣợc lại, ở các quốc gia châu Á – nơi có truyền thống đề cao yếu tố tập thể hơn cá nhân, TTCP thƣờng không nổi bật bằng, do vậy, ít đƣợc quan tâm hơn. Hai là, nghiên cứu về TTCP theo quan điểm so sánh.

Với cách tiếp cận này, TTCP của các quốc gia đƣợc chọn thƣờng là đại diện điển hình cho các chính thể khác nhau. Trong đó, phổ biến là các nghiên cứu so sánh giữa TTCP Anh (quân chủ đại nghị) với TTCP Đức (cộng hòa đại nghị), TTCP Pháp và TTCP Nga (Cộng hòa hỗn hợp). Thậm chí, nhiều tác giả còn đặt TTCP các nƣớc này trong mối tƣơng quan với Tổng thống Mỹ (ngƣời nắm quyền hành pháp ở chính thể cộng hòa tổng thống) và Tổng thống Pháp (ngƣời đứng đầu hành pháp ở chính thể cộng hòa hỗn hợp). Nội dung của các nghiên cứu về TTCP tập trung vào những vấn đề cơ bản sau: a) Về vị trí, vai trò của Thủ tướng Chính phủ TTCP đƣợc biết đến trƣớc hết với tƣ cách ngƣời đứng đầu Chính phủ (The Head of Government).

Ngoài ra, TTCP của nhiều quốc gia trên thế giới còn là ngƣời đứng đầu hành pháp (The Chief of Executive). Vì vậy, đa số các tác giả nƣớc ngoài đều nhấn mạnh vai trò của TTCP trên phƣơng diện lãnh đạo, điều hành Chính phủ/Nội các, lãnh đạo hành pháp (executive leadership), lãnh đạo chính trị (political leadership), lãnh đạo công chúng (public leadership) và đặc biệt là vai trò định hƣớng chính sách cho Chính phủ. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm chung, các tác giả không quên chỉ ra những nét riêng biệt về vị trí, vai trò của TTCP ở một số quốc gia nhất định, gắn liền với đặc trƣng của những hình thức chính thể tƣơng ứng. Trong chính thể quân chủ đại nghị, vai trò của TTCP hết sức nổi bật.

Điều này chủ yếu đƣợc khẳng định và chứng minh trong hàng loạt các nghiên cứu về TTCP Anh. Benemy trong cuốn The Elected Monarch, George G.ltd, London, 1965 đã ví Thủ tƣớng Anh nhƣ một vị “quân vƣơng đƣợc bầu”, ngƣời không “đứng đầu nhà nƣớc theo pháp luật” nhƣng lại “đứng đầu nhà nƣớc trên thực tế”. Hai nhà nghiên cứu Colin Turpin và Adam Tomkins trong cuốn British Government and the Constitution, Text and Materials, seventh edition, Cambridge University Press, 2012 đánh giá rằng vai trò của TTCP Anh đƣợc bộc lộ mạnh mẽ trên thực tế, bao gồm vai trò lãnh đạo Chính phủ; lãnh đạo chính sách đối ngoại; lãnh đạo đảng chính trị và đứng đầu về truyền thông của Chính phủ Anh. Tuy nhiên, đáng chú ý là, đa phần vai trò mà 8 ngƣời đứng đầu Chính phủ nƣớc này đảm nhiệm đều theo quy ƣớc, phụ thuộc chủ yếu vào tập quán và các tình huống chính trị, do đó, có tính linh hoạt và thay đổi theo thời gian.

Cũng nhƣ Thủ tƣớng Anh, Thủ tƣớng Nhật Bản đƣợc đánh giá là nhân vật chính trị trung tâm của Chính phủ. Trong cuốn sách “Leading Japan: The role of the Prime Minister”, Praeger Publisher, 2000, nhà nghiên cứu Tomohito Shinoda cho rằng vị trí, vai trò của TTCP đƣợc xác định trong Hiến pháp và với vai trò hiến định đó, ngƣời đứng đầu Nội các Nhật Bản có địa vị tƣơng xứng với TTCP ở nhiều quốc gia theo chính thể đại nghị khác, trong đó điển hình nhƣ Anh và Đức. Tác giả cũng nhấn mạnh vai trò thực tế của Thủ tƣớng Nhật Bản còn đƣợc định hình thêm bởi những phát triển thể chế và chính trị thời kỳ hậu chiến. Tuy nhiên, khác với Thủ tƣớng Anh, vai trò của Thủ tƣớng Nhật gây nhiều tranh cãi.

Thậm chí, có quan điểm cho rằng Thủ tƣớng Nhật Bản là nhân vật chính trị “yếu và thụ động” so với những ngƣời đồng cấp ở các nƣớc khác, đặc biệt là các quốc gia phƣơng Tây. Đại diện tiêu biểu cho khuynh hƣớng đánh giá này là Kenji Hayao (1993), trong tác phẩm The Japanese Prime Minister and public policy, University of Pittsburgh Press, Pittsburgh và Kensuke Takayasu (2015), Is the Japanese Prime Minister too week or too strong? – An institutional Analysis, The journal of law, political science and humanities, Japan. Song theo các tác giả Ellis S. Krauss và Benjamin Nyblade, qua bài viết “Presidentialization” in Japan? The Prime Minister, Media and Elections in Japan, British Journal of Political Science, 2004, TTCP Nhật Bản trƣớc đây có vai trò khá mờ nhạt nhƣng hiện nay đã trở nên nổi bật hơn nhờ những cải cách quan trọng về chế độ bầu cử và sự thay đổi mạnh mẽ của truyền thông khiến cho cử tri có điều kiện cập nhật thƣờng xuyên các hoạt động hàng ngày của cá nhân ngƣời đứng đầu Nội các.

Ở chính thể cộng hòa đại nghị, các nghiên cứu đều cho thấy TTCP là nhân vật đầy thực quyền, có vai trò và sự ảnh hƣởng to lớn không chỉ đối với bộ máy nhà nƣớc mà với toàn xã hội. Nổi bật trong các nghiên cứu về vấn đề này là: Gordon Smith (1991), The resource of a German Chancellor, Journal West European Politics, Volume 14; King A (1994), Chief executives in Western Europe trong I.McKay (eds), “Developing Democracy: Comparative Research in Honour of J. Blondel”, London, Sage… Trong chính thể cộng hòa hỗn hợp, nơi thực hiện mô hình hành pháp hai đầu, vai trò của TTCP hạn chế hơn. Thủ tƣớng chủ yếu là ngƣời thực thi các chính sách của Tổng thống.

Quyền hành của TTCP chỉ thực sự gia tăng khi đa số nghị viện không cùng một đảng với Tổng thống. Đặc điểm này đƣợc khẳng định trong các nghiên cứu về TTCP Pháp và Nga. Tuy nhiên, các tác giả Robert G. Neumann trong European and Comparative Government, McGraw-Hill Book Company, Inc, New York, 1951 và Robert Elgie trong The role of Prime Minister in France, 1981-91, St.Martin‟s Press, 1993 đều thống nhất rằng TTCP Pháp có vai trò nổi bật hơn so với TTCP Nga.

9 b) Về cách thức hình thành Thủ tướng Chính phủ Các tác giả nƣớc ngoài hầu nhƣ không dừng ở việc mô tả đơn giản thủ tục, trình tự pháp lý hình thành TTCP mà ngƣợc lại đều tập trung phân tích khía cạnh chính trị của vấn đề. Ở chính thể đại nghị, bổ nhiệm TTCP thuộc thẩm quyền của Nguyên thủ quốc gia nhƣng trên thực tế Nhà vua hay Tổng thống đều không có sự lựa chọn nào khác ngoài ngƣời đứng đầu của đảng chiếm đa số ghế trong Hạ viện. Vì Thủ tƣớng đƣợc bổ nhiệm phải là ngƣời có khả năng thành lập Chính phủ với sự tín nhiệm của Hạ viện. Điều này đƣợc thừa nhận trong hàng loạt các nghiên cứu về TTCP Anh nhƣ: F.

Benemy (1965), The Elected Monarch, George G.ltd, London; Rodney Brazier (1999), Constitutional Practice - The Foundations of British Government, Oxford University Press; third edition… Ngoài ra, cùng là chính thể đại nghị nhƣng đối với các quốc gia theo mô hình cộng hòa nghị viện, cách thức hình thành TTCP có sự khác biệt nhất định. Ludger Helms trong một nghiên cứu so sánh - Presidents, Prime Ministers and Chancellors – Executive Leadership in Western Democracies, Palgrave Macmillan, 2005 đã chỉ rõ: Thủ tƣớng Đức đƣợc bổ nhiệm bởi Tổng thống Liên bang nhƣng trƣớc đó phải dành đƣợc đa số tuyệt đối trong cuộc bỏ phiếu lần thứ nhất tại Bundestag (Hạ viện). Vì Chính phủ đƣợc thành lập theo nguyên tắc liên minh nên ứng viên Thủ tƣớng phải hội đủ các điều kiện: một, không phải là Nghị sĩ trong Bundestag; hai, không phải là lãnh đạo chính thức của Đảng mạnh nhất trong Quốc hội. Tuy nhiên, bằng những quan sát của mình, tác giả cuốn sách nhận thấy rằng trên thực tế hầu hết Thủ tƣớng Đức đều kiêm luôn chủ tịch đảng sau một thời gian nắm giữ vị trí ngƣời đứng đầu Chính phủ, ngoại trừ Thủ tƣớng Helmut Schmit (Thủ tƣớng Tây Đức từ 1974 – 1982).

Trong chính thể cộng hòa hỗn hợp, sự thành lập TTCP tƣơng đối giống với chính thể đại nghị, tức cũng phải thông qua Nghị viện. Tuy nhiên, dù TTCP Pháp và Nga đều đƣợc bổ nhiệm bởi Tổng thống nhƣng ở Pháp – nơi duy trì chế độ đa đảng song lại không có đảng chiếm đa số ghế trong Quốc hội, để tìm ra một Thủ tƣớng có khả năng thuyết phục đa số Nghị sỹ đòi hỏi Tổng thống phải có kỹ năng lựa chọn tốt. Neumann cho thấy điều đó trong cuốn European and Comparative Government, McGraw-Hill; 3rd edition, 1960. Ngƣợc lại, ở Nga, Tổng thống dƣờng nhƣ toàn quyền quyết định chọn ai là TTCP, bất chấp sự phản đối của Quốc hội.

Thế nhƣng không phải không có những trƣờng hợp ngoại lệ. Bài viết Constitutional Roulette: The Russian Parliament’s Battles with the President over appointing a Prime Minister, Stanford Journal of International Law, volume 123, 2005 của tác giả Eugene D.Mazot chỉ ra một ngoại lệ xảy ra vào năm 1998, khi Quốc hội Nga bác bỏ đề xuất của Tổng thống, tự đề xuất ứng cử viên mới và chấp nhận ông này là Thủ tƣớng. Sử dụng cuộc đối đầu nhƣ một “cái cớ”, tác giả đã có những gợi mở, đánh giá xác đáng về mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp trong các mô hình chính thể, đặc biệt là mô hình chính thể hỗn hợp mà nƣớc Nga thời kỳ hậu Xô Viết đã lựa chọn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về chế định thủ tướng chính phủ tại Việt Nam là một nghiên cứu chuyên sâu về vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ trong hệ thống hành chính nhà nước. Tài liệu này không chỉ phân tích các quy định pháp lý hiện hành mà còn đưa ra những đánh giá thực tiễn về hiệu quả hoạt động của chế định này. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cơ chế vận hành của bộ máy chính phủ, từ đó có cái nhìn toàn diện về quản lý nhà nước.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ luật học thẩm quyền của thủ tướng chính phủ và chính phủ theo luật tổ chức chính phủ năm 2015, nghiên cứu này đi sâu vào phân tích thẩm quyền của Thủ tướng và Chính phủ dựa trên Luật Tổ chức Chính phủ 2015. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ luật học cải cách bộ máy hành chính nhà nước cấp trung ương ở cộng hòa dân chủ nhân dân lào cung cấp góc nhìn so sánh về cải cách hành chính, giúp bạn hiểu rõ hơn về các mô hình quản lý nhà nước. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học tổ chức và hoạt động của uỷ ban nhân dân quận theo mô hình chính quyền đô thị của thành phố hà nội sẽ bổ sung kiến thức về cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính địa phương.

Mỗi tài liệu trên là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các khía cạnh liên quan đến quản lý nhà nước và pháp luật.