Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Vũ Minh Giám thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đặng Quang Phương và PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà, bảo vệ năm 2022 thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số 9380104).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong tố tụng hình sự, chứng cứ là phương tiện duy nhất để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tại giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự (VAHS) về các tội xâm phạm sở hữu (XPSH), chứng cứ là những thông tin có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) quy định, được kiểm tra và đánh giá công khai tại phiên tòa nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi và các tình tiết liên quan làm căn cứ cho việc ra phán quyết.
Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy nhóm tội XPSH là nhóm tội phạm xảy ra phổ biến, trực tiếp xâm phạm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân với thủ đoạn ngày càng phức tạp. Báo cáo đánh giá của Tòa án nhân dân (TAND) tối cao từng chỉ rõ: "còn có ý kiến khác nhau về đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật". Về mặt lý luận, các khái niệm như chứng cứ, đối tượng chứng minh, giới hạn chứng minh, nghĩa vụ chứng minh vẫn tồn tại nhiều điểm chưa thống nhất giữa các nhà khoa học pháp lý. Các công trình nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận chứng cứ trong tố tụng hình sự nói chung hoặc dừng lại ở giai đoạn điều tra, truy tố, chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về chứng cứ trong giai đoạn xét xử sơ thẩm chuyên biệt cho nhóm tội XPSH. Do đó, việc nghiên cứu đề tài này nhằm giải quyết khoảng trống lý luận và tháo gỡ vướng mắc thực tiễn xét xử.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả và chất lượng xét xử sơ thẩm nhóm tội này.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Thứ nhất: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH, bao gồm: cơ sở phương pháp luận; khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của chứng cứ và nguồn chứng cứ; những vấn đề phải chứng minh và quá trình chứng minh; các yếu tố tác động đến việc thi hành quy định pháp luật về chứng cứ.
- Thứ hai: Phân tích, làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành các quy định về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở Việt Nam.
- Thứ ba: Phân tích các yêu cầu đặt ra và đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm thi hành đúng quy định của pháp luật về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở nước ta hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự về chứng cứ và thực tiễn thi hành các quy định về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS đối với các tội XPSH tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào lý thuyết chứng cứ, quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng chứng cứ trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với nhóm tội XPSH.
- Về không gian: Phạm vi toàn lãnh thổ Việt Nam.
- Về thời gian: Dữ liệu và thực tiễn xét xử được khảo sát trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tác giả luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước theo ba nhóm vấn đề chính:
| Hướng nghiên cứu |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Nội dung tiếp cận chính |
| Lý luận về chứng cứ và chứng minh |
- Nguyễn Văn Du (2005): Khái niệm chứng cứ trong tố tụng hình sự: Nhìn từ góc độ lịch sử và luật so sánh - Đỗ Văn Đương: Luận án TS Thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra VAHS - Vương Văn Bép: Luận án TS Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định chứng cứ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam - Hoàng Thị Minh Sơn: Hoàn thiện các quy định về thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong tố tụng hình sự - Ngô Văn Vịnh: Các nghiên cứu về khái niệm chứng cứ theo luật thực định. |
Phân tích khái niệm chứng cứ, các thuộc tính của chứng cứ, hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ qua các giai đoạn tố tụng; khẳng định chứng cứ là phương tiện duy nhất để chứng minh sự thật khách quan. |
| Dấu hiệu pháp lý nhóm tội XPSH |
- Nguyễn Ngọc Chí: Luận án TS Trách nhiệm hình sự đối với các tội XPSH - Đặng Quang Dũng: Luận văn ThS Các tội XPSH có tính chiếm đoạt trong Luật hình sự Việt Nam - Lê Hoàng Tấn (TP.HCM), Võ Văn Quảng (Gia Lai), Trần Thị Phương (Bình Định, 2006-2010), Phan Đình Vui (Đà Nẵng): Các luận văn ThS nghiên cứu thực tiễn địa phương. - Nguyễn Trương Giang: Dấu hiệu pháp lý và cách phân loại các tội XPSH theo BLHS 2015. |
Phân tích 4 yếu tố cấu thành tội phạm của nhóm tội XPSH (khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể); phân loại tội XPSH thành 3 nhóm: có tính chất chiếm đoạt (8 tội), không có tính chất chiếm đoạt (2 tội), không có tính vụ lợi/không chiếm đoạt (3 tội). |
| Thực trạng thi hành pháp luật và xử lý vật chứng |
- Dự án điều tra cơ bản: Thực trạng thi hành BLHS năm 1999 nhằm sửa đổi toàn diện BLHS 1999 - Phạm Minh Tuyên: Tội cướp giật tài sản và vấn đề chuyển hóa tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam - Nguyễn Văn Trượng: Các bài viết về định tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và vướng mắc xử lý vật chứng. - Trần Duy Bình, Thái Chí Bình, Nguyễn Minh Hải: Các nghiên cứu về xử lý vật chứng theo BLTTHS 2003 và BLTTHS 2015. |
Chỉ ra các vướng mắc khi định tội danh (nhầm lẫn giữa lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm, cướp và cướp giật, cướp giật và công nhiên chiếm đoạt, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và mua bán người); bất cập trong định giá tài sản và bảo quản, xử lý vật chứng tại Tòa án. |
| Giải pháp và cải cách tư pháp |
- Nguyễn Hòa Bình: Bảo đảm quyền con người, quyền công dân tư tưởng xuyên suốt trong BLTTHS năm 2015 - Đào Trí Úc: Tố tụng hình sự Việt Nam đổi mới và hoàn thiện theo hướng nào - Hoàng Thế Liên, Lê Cảm, Trịnh Khắc Triệu, Đinh Thế Hưng: Các nghiên cứu về nguyên tắc suy đoán vô tội, tranh tụng tại phiên tòa, xác định vị trí trung tâm của Tòa án. |
Đề xuất bình đẳng trong tiếp cận và đánh giá chứng cứ, bỏ giá trị tiên quyết của chứng cứ hồ sơ, mở rộng tranh tụng, hoàn thiện quy định về suy đoán vô tội và hạn chế trả hồ sơ điều tra bổ sung kéo dài. |
Các hướng nghiên cứu ngoài nước
- Lý luận về bản chất chứng cứ: Nhà luật học M. Trenxôv (Nga) đồng nhất chứng cứ với sự kiện thực tiễn khách quan trong quá khứ; A.Ia Vư-sin-xky trong tác phẩm Lý luận về chứng cứ tư pháp trong pháp luật Xô Viết phân tích quan điểm chứng cứ của luật gia phương Tây dưới góc độ thủ tục tố tụng.
- Quy tắc loại trừ và tiêu chuẩn chứng minh: Thẩm phán Kim Chu Seok (Hàn Quốc) phân tích nguyên tắc loại trừ chứng cứ bất hợp pháp (exclusionary rule), loại bỏ lời nhận tội không tự nguyện, quy tắc tin đồn (hearsay rule). GS. Liling Yue phân tích tiêu chuẩn chứng cứ trong tố tụng Trung Quốc (zhen shi qing kuang - sự thật khách quan) trong sự so sánh với tiêu chuẩn chứng minh vượt qua sự nghi ngờ hợp lý (beyond reasonable doubt).
- Mô hình tố tụng và so sánh tư pháp: Philip Reichl (Tư pháp hình sự so sánh), tài liệu JPP (Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới của 7 quốc gia), Jean-Philippe Rivaud (Mô hình tố tụng hình sự Cộng hòa Pháp), Richard S. Shine (thủ tục cảnh báo Miranda tại Hoa Kỳ), Roderick Munday (Chứng cứ - dẫn chiếu hơn 500 vụ án tại Anh).
- Bằng chứng pháp y trong tội phạm sở hữu: Báo cáo của Tom McEwen và nghiên cứu của Joseph Peterson, Ira Sommers, Deborah Baskin, Donald Johnson chỉ ra tỷ lệ xuất hiện bằng chứng pháp y ở tội phạm sở hữu (trộm cắp, cướp bóc) là dưới 15%, thấp hơn nhiều so với tội giết người (89%) và hiếp dâm (32%), dẫn đến nguy cơ chậm trễ hoặc từ chối công lý nếu không xử lý chứng cứ kịp thời.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
- Chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống về chứng cứ trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với nhóm tội XPSH.
- Khái niệm, dấu hiệu đặc trưng của chứng cứ và những vấn đề phải chứng minh trong xét xử sơ thẩm nhóm tội XPSH chưa được phân định rõ ràng với các giai đoạn tố tụng khác.
- Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về chứng cứ trước đây chủ yếu dựa trên bình luận luật học thuần túy, thiếu việc tổng kết số liệu thực tiễn xét xử sơ thẩm trên phạm vi toàn quốc.
- Cần xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật về chứng cứ trong bối cảnh thi hành BLHS 2015 và BLTTHS 2015 gắn với yêu cầu cải cách tư pháp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận và lý thuyết
Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin làm nền tảng phương pháp luận:
- Nguyên lý nhận thức duy vật biện chứng: Bản chất thế giới là vật chất; con người có khả năng nhận thức thế giới khách quan theo quy luật từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều hơn; hành vi phạm tội tồn tại khách quan và luôn để lại dấu vết trong thế giới thực tại.
- Con đường biện chứng của nhận thức chân lý: Quá trình chứng minh vận động theo quy luật "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn".
- Nguyên tắc khách quan và toàn diện: Đòi hỏi Hội đồng xét xử (HĐXX) phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội, xem xét mọi mối liên hệ bản chất của vụ án, không coi bất kỳ chứng cứ nào có giá trị ưu tiên tuyệt đối trước khi mở phiên tòa.
- Luận án kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật cùng các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử - cụ thể: Khảo cứu sự phát triển của lý luận chứng cứ và quá trình lập pháp tố tụng hình sự qua các thời kỳ.
- Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các quan điểm lý luận về chứng cứ, cấu thành tội phạm XPSH và các yêu cầu cải cách tư pháp.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu hoạt động chứng cứ ở giai đoạn xét xử sơ thẩm với giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử phúc thẩm; so sánh kinh nghiệm pháp luật quốc tế.
- Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu xét xử sơ thẩm các VAHS về tội XPSH trên phạm vi toàn quốc trong giai đoạn 2011–2020.
- Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá từng nguồn chứng cứ cụ thể; chỉ ra nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn xét xử.
- Phương pháp thu thập tài liệu, nghiên cứu văn bản và phỏng vấn sâu: Thu thập hồ sơ vụ án thực tế, phân tích văn bản quy phạm pháp luật và lấy ý kiến chuyên gia, Thẩm phán, Kiểm sát viên.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp 2013, BLHS 1999 (sửa đổi 2009), BLHS 2015 (sửa đổi 2017), BLTTHS 2003, BLTTHS 2015 và các văn bản hướng dẫn áp dụng.
- Hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm về các tội XPSH, bản án, quyết định của TAND các cấp giai đoạn 2011–2020.
- Báo cáo tổng kết công tác xét xử hàng năm của TAND tối cao, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao.
- Các giáo trình, luận án tiến sĩ, bài báo khoa học pháp lý trong nước và quốc tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 tổng thuật chi tiết tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chứng cứ trong tố tụng hình sự và nhóm tội XPSH. Tác giả chỉ ra 4 nội dung đã đạt được sự thống nhất trong giới học thuật:
- Chứng cứ là phương tiện chứng minh duy nhất để xác định sự thật khách quan của vụ án.
- Quá trình chứng minh diễn ra qua nhiều giai đoạn nhưng tại giai đoạn xét xử, Thẩm phán và HĐXX là chủ thể trực tiếp sử dụng chứng cứ để phán quyết.
- Thực tiễn xét xử và xử lý vật chứng đối với nhóm tội XPSH ở Việt Nam còn nhiều bất cập, vướng mắc.
- Cần có các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về chứng cứ.
Đồng thời, chương này xác lập 3 vấn đề còn tranh luận và khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu chuyên sâu về chứng cứ trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với nhóm tội XPSH.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu
Chương 2 tập trung xây dựng khung lý thuyết hoàn chỉnh về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH:
- Khái niệm và đặc điểm: Chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH là những thông tin, tài liệu có thật, phản ánh hành vi xâm phạm quyền sở hữu, được thu thập, kiểm tra, đánh giá công khai tại phiên tòa theo trình tự, thủ tục luật định nhằm xác định sự thật khách quan.
- Nguồn chứng cứ (8 nguồn cụ thể):
- Kết luận định giá tài sản, tài liệu xác định giá trị tài sản: Căn cứ quan trọng nhất để định tội, định khung tăng nặng; bao gồm kết luận của Hội đồng định giá và các hóa đơn, chứng từ sửa chữa, mua bán.
- Lời khai, lời trình bày của người tham gia tố tụng: Bao gồm lời khai người bị tạm giữ/bắt, bị can, bị cáo, người làm chứng, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người giám định, người định giá. Luận án lưu ý không được dùng lời nhận tội của bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội; lời khai người làm chứng phải nói rõ vì sao biết được tình tiết.
- Vật chứng: Công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết, tài sản bị chiếm đoạt. Cần kiểm tra chặt chẽ tính nguyên vẹn và thủ tục thu thập, bảo quản.
- Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố: Biên bản bắt giữ, khám xét, khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng.
- Kết luận giám định: Văn bản kết luận chuyên môn (giám định thiệt hại, dấu vết cơ học, tâm thần...).
- Các tài liệu, đồ vật khác: Sổ sách kế toán, chứng từ chuyển tiền, báo cáo tài chính.
- Dữ liệu điện tử: Tin nhắn, email, dữ liệu camera ghi hình, lịch sử giao dịch điện tử (phổ biến trong tội lừa đảo công nghệ cao).
- Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế: Các tài liệu do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cung cấp theo thủ tục tương trợ tư pháp.
- Những vấn đề phải chứng minh và giới hạn chứng minh: Bao gồm có hành vi phạm tội xảy ra hay không; thời gian, địa điểm, phương thức, thủ đoạn; lỗi, động cơ, mục đích; người thực hiện hành vi; tính chất, mức độ thiệt hại tài sản; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân. Xác định giới hạn chứng minh phù hợp giúp tránh việc bỏ lọt tội phạm (nếu quá hẹp) hoặc kéo dài phiên tòa không cần thiết (nếu quá rộng).
Chương 3: Quy định của pháp luật về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu và thực tiễn thi hành ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 phân tích thực trạng các quy định pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng trong giai đoạn 2011–2020:
- Phân tích quy định pháp luật: Đánh giá quy định của BLHS và BLTTHS về thẩm quyền, trình tự kiểm tra chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, tại phiên tòa sơ thẩm và khi nghị án.
- Thực tiễn thi hành và những vướng mắc điển hình:
- Lúng túng trong định tội danh: Thẩm phán dễ nhầm lẫn giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (vấn đề xác định thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt); giữa cướp tài sản và cướp giật tài sản; giữa cướp giật tài sản và công nhiên chiếm đoạt tài sản.
- Bất cập trong định giá tài sản: Việc xác định giá trị tài sản tại thời điểm bị xâm hại gặp khó khăn khi tài sản không thu hồi được, tài sản bị hư hỏng hoặc giá trị biến động mạnh trên thị trường.
- Xử lý vật chứng: Tình trạng chậm trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp, bảo quản vật chứng làm giảm sút giá trị sử dụng.
- Đánh giá chứng cứ phi vật chất và dữ liệu điện tử: Còn lúng túng trong việc xác thực tính toàn vẹn của dữ liệu số và xử lý các mâu thuẫn trong lời khai tại phiên tòa.
Chương 4: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm thi hành đúng quy định của pháp luật về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu
Chương 4 xác định các yêu cầu nền tảng và đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể:
- Các yêu cầu cơ bản:
- Bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN và nguyên tắc độc lập xét xử của Tòa án.
- Bảo đảm tranh tụng dân chủ, thực chất tại phiên tòa sơ thẩm.
- Bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội và tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền sở hữu tài sản hợp pháp.
- Hệ thống giải pháp đề xuất:
- Hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi, bổ sung và ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các dấu hiệu định tội, định khung hình phạt đối với nhóm tội XPSH trong BLHS 2015; hoàn thiện quy trình thu thập, chuyển giao, bảo quản và kiểm tra dữ liệu điện tử trong BLTTHS 2015; quy định rõ ràng tiêu chí vô hiệu chứng cứ thu thập trái pháp luật.
- Nâng cao chất lượng tố tụng tại Tòa án: Tăng cường kỹ năng xét hỏi, tranh tụng của Thẩm phán, Hội thẩm và Kiểm sát viên; bảo đảm quyền tiếp cận, giao nộp và tranh luận bình đẳng về chứng cứ của người bào chữa, bị cáo và đương sự.
- Đổi mới công tác định giá và giám định: Chuẩn hóa quy trình thành lập Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, bảo đảm thời hạn và tính độc lập chuyên môn của kết luận định giá.
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Nâng cao trình độ nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị và đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội thẩm nhân dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ tại Việt Nam về chứng cứ trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với nhóm tội XPSH.
- Làm sáng tỏ cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chứng cứ, chỉ rõ mối quan hệ giữa quy luật phản ánh vật chất và quá trình tái hiện sự thật khách quan tại phiên tòa.
- Xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về khái niệm, đặc điểm, vai trò, 8 nguồn chứng cứ đặc thù và những vấn đề phải chứng minh đối với nhóm tội XPSH trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Tổng kết, đánh giá thực trạng thi hành các quy định pháp luật về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm các tội XPSH giai đoạn 2011–2020 trên phạm vi toàn quốc; chỉ rõ nguyên nhân của các sai sót, nhầm lẫn trong định tội danh, định giá tài sản và xử lý vật chứng.
- Đưa ra các kiến nghị lập pháp và áp dụng pháp luật có giá trị thực tiễn cao nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong việc đánh giá chứng cứ giữa Tòa án và Viện kiểm sát.
- Đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, bảo đảm quyền con người và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp theo tinh thần cải cách tư pháp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế từ phạm vi tư liệu: Luận án giới hạn nghiên cứu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với nhóm tội XPSH giai đoạn 2011–2020; các số liệu chủ yếu phản ánh thực tiễn trước và đầu thời kỳ thi hành BLHS 2015, BLTTHS 2015.
- Về loại hình chứng cứ mới: Nghiên cứu về chứng cứ dữ liệu điện tử và kết quả ủy thác tư pháp quốc tế mới dừng ở mức độ nhận diện do mức độ xuất hiện thực tế tại các phiên tòa sơ thẩm trong giai đoạn khảo sát chưa thật sự phổ biến ở các địa phương vùng sâu, vùng xa.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu chứng cứ nhóm tội XPSH ở các cấp xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Nghiên cứu chuyên sâu về quy trình thu thập, giám định và đánh giá chứng cứ kỹ thuật số trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, không gian mạng và các phương thức thanh toán mới.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan xét xử (Tòa án các cấp): Cung cấp tài liệu tham khảo cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong việc nghiên cứu hồ sơ, phân tích đối tượng chứng minh, điều hành xét hỏi và đánh giá chứng cứ tại phiên tòa sơ thẩm nhóm tội XPSH.
- Đối với cơ quan điều tra và Viện kiểm sát: Giúp Điều tra viên, Kiểm sát viên nắm bắt yêu cầu chứng minh ở giai đoạn xét xử để nâng cao chất lượng thu thập, củng cố chứng cứ ngay từ giai đoạn điều tra, truy tố, hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung.
- Đối với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu luật học: Là nguồn tài liệu giảng dạy, học tập chuyên khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự.
- Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ việc tổng kết, xây dựng Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định về nhóm tội XPSH và chế định chứng cứ.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ sở phương pháp luận cốt lõi mà tác giả sử dụng để nghiên cứu chứng cứ là gì?
Tác giả sử dụng phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin với luận điểm: bản chất thế giới là vật chất, tội phạm là hiện tượng xã hội để lại dấu vết khách quan và con người có đầy đủ khả năng nhận thức được chân lý thông qua quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá toàn diện các dấu vết đó.
2. Luận án phân loại nguồn chứng cứ trong xét xử sơ thẩm nhóm tội XPSH thành mấy nhóm?
Luận án phân loại thành 8 nguồn chứng cứ cụ thể: (1) Kết luận định giá tài sản, tài liệu xác định giá trị tài sản; (2) Lời khai, lời trình bày của người tham gia tố tụng; (3) Vật chứng; (4) Biên bản trong hoạt động tố tụng; (5) Kết luận giám định; (6) Các tài liệu, đồ vật khác; (7) Dữ liệu điện tử; (8) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế.
3. Vướng mắc phổ biến nhất trong thực tiễn xét xử sơ thẩm nhóm tội XPSH được chỉ ra là gì?
Vướng mắc phổ biến nhất là việc xác định hành vi khách quan và thủ đoạn phạm tội để phân biệt tội danh (dễ nhầm lẫn giữa lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; cướp, cướp giật và công nhiên chiếm đoạt tài sản) và việc xác định giá trị tài sản thông qua hoạt động định giá.
4. Tỷ lệ xuất hiện của bằng chứng pháp y trong các tội phạm xâm phạm sở hữu theo tài liệu quốc tế được luận án trích dẫn là bao nhiêu?
Theo báo cáo của Joseph Peterson và cộng sự được trích dẫn trong luận án, tỷ lệ xuất hiện bằng chứng pháp y trong các vụ án trộm cắp và cướp bóc đạt dưới 15% số vụ việc, thấp hơn rất nhiều so với tội giết người (89%) và tội hiếp dâm (32%).
5. Tại sao việc xác định đúng giới hạn chứng minh lại có ý nghĩa quyết định trong xét xử sơ thẩm?
Nếu xác định giới hạn chứng minh quá hẹp, Tòa án sẽ không đủ chứng cứ để kết luận sự thật khách quan, dẫn đến nguy cơ bỏ lọt tội phạm hoặc oan sai. Ngược lại, nếu xác định giới hạn quá rộng, HĐXX phải kiểm tra tràn lan các tình tiết không liên quan, gây lãng phí thời gian và làm chậm tiến độ xét xử.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Minh Giám đã giải quyết một cách khoa học những vấn đề lý luận và thực tiễn về chứng cứ trong xét xử sơ thẩm VAHS về các tội XPSH ở Việt Nam. Dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và việc khảo cứu thực tiễn xét xử giai đoạn 2011–2020 trên phạm vi toàn quốc, công trình đã làm rõ 8 nguồn chứng cứ đặc thù cùng các vướng mắc trong định tội danh và định giá tài sản. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, nghiên cứu học thuật và nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân trong tiến trình cải cách tư pháp.