Chương 1: Giới thiệu về đề tài 4 Trong chương đầu tiên, tác giả khái quát về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, phương pháp và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài cũng như tóm lược kết cấu của bài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan những nghiên cứu về các mô hình VaR Trong chương này, tác giả khái quát lý thuyết và các nghiên cứu trên thế giới liên quan đến thước do VaR cũng như các mô hình dự báo VaR. Bên cạnh đó, tác giả trình bày các bằng chứng thực nghiệm về xếp hạng các mô hình VaR trong dự báo rủi ro danh mục. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Ở chương này, tác giả tóm lược các mô hình và nguồn dữ liệu để thực hiện nghiên cứu cũng như mô tả khái quát các bước xử lý dữ liệu và thực nghiệm với công cụ, phần mềm hỗ trợ là Excel, Eviews và Matlab.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trong chương này, tác giả trình bày các kết quả dự báo VaR, kết quả kiểm định theo phương pháp VR cũng như kết quả xếp hạng các mô hình. Cuối cùng, tác giả tiến hành đánh giá kết quả xếp hạng và thực hiện phân tích đồ thị để kiểm tra lại sự chính xác của kết quả xếp hạng. Chương 5: Kết luận Ở chương này, tác giả tổng kết nội dung nghiên cứu và đề xuất hướng mở rộng cho những nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ VaR 2.
Tổng quan về Value at Risk (VaR) 2. Khái niệm VaR Theo Giáo trình Quản trị rủi ro tài chính của Nguyễn Thị Ngọc Trang năm 2010, Giá trị có rủi ro (VaR) là một phương pháp đo lường tính bằng tiền của khoản lỗ tối thiểu dự kiến trong một thời kỳ với một xác suất cho sẵn. Ví dụ VaR là $5 triệu trong một ngày với xác suất 0.05 có nghĩa là công ty dự kiến lỗ ít nhất $5 trong một ngày với xác suất 5%. Ngoài cách hiểu trên, có thể diễn tả VaR theo một cách khác.
Theo đó, có khả năng xác suất 95% khoản lỗ của công ty sẽ không vượt quá $5 triệu. Với cách hiểu này, VaR trở thành khoản lỗ tối đa tương ứng với một xác suất nào đó. Tầm quan trọng là lớn hay nhỏ của khoản lỗ $5 triệu tùy thuộc vào quy mô và khẩu vị rủi ro của công ty này. Nhưng rõ ràng là dự kiến sẽ xuất hiện một khoản lỗ ít nhất $5 triệu trong 20 ngày giao dịch, có nghĩa là khoảng mỗi tháng một lần.
Nói một cách dễ hiểu, VaR chính là cách thức mà bạn xác định phân phối xác suất của những nguồn gốc cơ bản (Giá cả hàng hóa, tỷ giá, giá chứng khoán…) dẫn đến rủi ro và tìm cách cô lập tỷ lệ phần trăm suất hiện các kết quả xấu nhất. Sử dụng ví dụ trên ta có VaR sẽ xác định 5% là kết quả xấu nhất. Kết quả tại 5% là VaR. Sự phát triển của VaR trong quản trị rủi ro VaR được xây dựng trên những cơ sở lý thuyết xác suất và thống kê từ nhiều thế kỷ và kế thừa từ những phương pháp đo lường rủi ro trước đó, được phát triển và phổ biến đầu những năm 1990 bởi một loạt các nhà khoa học và toán học tài chính làm việc trong JPMorgan Chase.
Từ năm 1994, với sự ra đời của Riskmetrics, một gói sản phẩm ứng dụng VaR mang thương hiệu của một công ty tách ra từ JPMorgan Chase, Value at Risk đã được áp dụng rộng rãi và trở thành một tiêu chuẩn trong việc đo lường và giám sát rủi ro tài chính, đặc biệt là rủi ro thị trường, trên toàn thế giới. 6 Vào cuối những năm 1990, Ủy ban Chứng khoán Mỹ phán quyết rằng các công ty phải báo cáo một công bố định lượng các rủi ro thị trường trong báo cáo tài chính của họ cho sự tiện lợi của nhà đầu tư, và VaR đã trở thành công cụ chính để làm như vậy. Cùng thời gian đó, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng nói rằng các công ty và các ngân hàng có thể dựa trên tính toán VaR nội bộ của riêng của họ để thiết lập các yêu cầu về vốn của họ. Vì vậy, nếu VaR của họ khá thấp, số tiền họ đã phải dành để trang trải các rủi ro có thể xấu đi cũng có thể ở mức thấp.
Tại Việt Nam, năm 2013 Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) đã ban hành Quy chế Hướng dẫn Thành lập và Vận hành Hệ thống Quản trị Rủi ro cho Công ty Quản lý quỹ. Trong quy chế này, UBCKNN đã đề cập đến VaR và các cách tính cơ bản của VaR giúp hướng dẫn các công ty Quản lý quỹ quản trị rủi ro hiệu quả hơn. Một số đặc điểm của VaR VaR thông thường được tính cho từng ngày trong khoảng thời gian nắm giữ tài sản, và thường được tính với độ tin cậy 95% hoặc 99%. VaR có thể áp dụng được với mọi danh mục có tính lỏng.
Tất cả mọi tài sản lỏng đều có giá trị không cố định, được điều chỉnh theo thị trường với một quy luật phân bố xác suất nhất định. Hạn chế lớn nhất của VaR, đó là giả định các yếu tố của thị trường không thay đổi nhiều trong khoảng thời gian xác định VaR. Đây là một hạn chế rất lớn, và trong năm 2007, 2008 đã dẫn đến sự phá sản của một loạt ngân hàng đầu tư trên thế giới, do điều kiện thị trường có những biến động đột ngột vượt xa so với trong quá khứ. Các thông số ảnh hƣởng đến VaR Ðối với nhà đầu tư thì VaR của một danh mục tài sản tài chính phụ thuộc vào ba thông số quan trọng là Độ tin cậy, Khoảng thời gian đo lường VaR và Sự phân bố lời/lỗ trong khoảng thời gian này.
Với mỗi công ty khác nhau sẽ có một nhu cầu về độ tin cậy khác nhau, nó còn tùy thuộc vào khẩu vị rủi ro của từng nhà đầu tư. Những nhà đầu tư không thích rủi ro sẽ muốn có độ tin cậy cao. Bên cạnh đó, với mục đích kiểm định tính đúng đắn của ước tính VaR, thì việc chọn độ tin cậy không cần quá cao, bởi lẽ nếu độ tin cậy quá cao (99% chẳng hạn) thì lúc đó VaR sẽ cao hơn, hay nói cách khác là xác suất để thua lỗ lớn hơn VaR sẽ thấp đi, dẫn đến thời gian để thu thập dữ liệu xác định tính đúng đắn của kiểm định sẽ kéo dài hơn. Khoảng thời gian đo lường VaR.
Một trong những yếu tố quan trọng để áp dụng VaR đó là thời gian sử dụng. Trong nhưng khung thời gian khác nhau thì TSSL của danh mục sẽ có những độ giao động khác nhau, thông thường khung thời gian càng dài thì độ giao động của danh mục càng lớn. Nguồn: internet Đồ thị 1: Sự phân bố lời/lỗ trong khoảng thời gian xác định VaR Sự phân bố lời/lỗ trong khoảng thời gian xác định VaR. Ðường phân bố khoản lời lỗ của danh mục đầu tư thể hiện thông số quan trọng nhất và khó xác định nhất.
Vì mức tín nhiệm phụ thuộc vào khả năng chịu đựng rủi ro của nhà đầu tư, nếu mức tín 8 nhiệm này càng quan trọng thì VaR càng cao. Nói cụ thể nếu nhà đầu tư sợ rủi ro thì họ sẽ hoạch định một chiến lược nhằm giảm xác suất xảy ra các trường hợp xấu nhất. Các cách tiếp cận các mô hình VaR 2. Cách tiếp cận Phi tham số (Nonparametric) Phương pháp phi tham số không dựa trên những giả định về phân phối và các yêu cầu liên quan.
Một lợi thế của phương pháp này là dễ tránh được các lỗi kỹ thuật, tuy nhiên hạn của các phương pháp này nằm ở việc không giả định phân phối. Mô hình Mô phỏng Quá khứ (Historical Simulation) Mô hình VaR dựa trên phương pháp Historical Simulation (HS) là các tiếp cận phi tham số cổ điển nhất. Sử dụng HS, ta có thể tính toán TSSL của danh mục dựa trên dữ liệu quá khứ trong một khoảng thời gian người sử dụng xác định, các thông tin này được biểu diễn dưới hình thức biểu đồ. Từ đó, ta sẽ dễ dàng tính khoản lỗ vượt quá với xác suất 5% hay 1%.
Các bước tính VaR theo phương pháp này như sau Bước 1. Tính giá trị hiện tại của danh mục đầu tư. Tổng hợp tất cả các tỷ suất sinh lợi quá khứ của danh mục đầu tư trong một khoảng thời gian xác định. Xếp các tỷ suất sinh lợi theo thứ tự từ thấp nhất đến cao nhất.
Tính VaR theo độ tin cậy và số liệu tỷ suất sinh lợi quá khứ. Phương pháp đưa ra giả thuyết rằng sự phân bổ tỷ suất sinh lợi trong quá khứ có thể tái diễn trong tương lai nên sử dụng dữ liệu TSSL trong quá khứ để ước tính VaR vì cho rằng quá khứ sẽ lặp lại. Mô hình mô phỏng quá khứ có những ưu điểm là rất trực quan, đơn giản và dễ hiểu; những số liệu tổn thất đặc biệt trong quá khứ có thể vẫn được tính đến trong mô hình này; mô hình này tương đối dễ triển khai áp dụng; có thể sử dụng số liệu số 9 liệu sẵn có từ nhiều nguồn khác nhau; có thể xử lý được nhiều dạng phân phối khác nhau của lợi suất. Một trong những nhược điểm của mô hình mô phỏng quá khứ là mô hình này phụ thuộc hoàn toàn vào số liệu quá khứ nên không thể thực hiện khi không có số liệu hoặc khi số liệu không đáng tin cậy.
Số lượng các bản ghi của số liệu quá khứ cũng ảnh hưởng đến độ tin cậy của giá trị ước lượng VaR. Mô hình mô phỏng Monte Carlo Về tổng quát, mô phỏng Monte Carlo đưa ra những kết quả ngẫu nhiên nên ta có thể kiểm tra xem cái gì đang xảy ra và sẽ tạo ra loại rủi ro như thế nào. Mô hình này được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học cũng như trong kinh doanh để phát hiện nhiều vấn đề khác nhau. Mô hình Monte Carlo trước hết định nghĩa các biến và tham số có thể ảnh hưởng đến lợi suất, tiếp theo dùng kỹ thuật mô phỏng (sử dụng sức mạnh tính toán của các chương trình máy tính) để tạo ra rất nhiều kết quả mô phỏng, mỗi kết quả mô phỏng gắn với một giá trị lãi/lỗ.
Các kết quả mô phỏng này sẽ tạo ra một phân phối về lãi/lỗ và VaR sẽ được tính toán từ phân phối này.