CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO LÃI SUẤT VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG 1. RỦI RO LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG 1. Khái niệm rủi ro Đứng trên giác độ nghiên cứu kinh tế, rủi ro được hiểu là tác động của những biến cố xảy ra trong tương lai lên giá trị ròng của một chủ thể kinh tế hoặc một danh mục tài sản mà khả năng xảy ra biến cố đó có thể dự đoán trước nhưng không thể dự đoán chính xác biến cố đó sẽ xảy ra như thế nào. Rủi ro thường được đo lường bằng độ lệch chuẩn giữa lợi nhuận thực tế của các chủ thể kinh tế với mức lợi nhuận dự kiến.
Mức độ biến động của lợi nhuận càng lớn, nghĩa là sự không chắc chắn càng nhiều thì nguy cơ rủi ro càng cao. Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh luôn đi kèm với rủi ro, hoạt động kinh doanh của các NHTM cũng không ngoại lệ. Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng là loại hình kinh doanh đặc biệt, chính vì vậy nên nó chịu ảnh hưởng nhanh chóng của mọi biến động trong nền kinh tế - xã hội, điều đó có thể gây nên những xáo trộn bất ngờ và dẫn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng bị giảm sút một cách nhanh chóng. Có thể nói đối với hoạt động ngân hàng hầu như không có loại nghiệp vụ nào, không có loại dịch vụ nào là không có rủi ro.
Như vậy, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. 5 Để quản lý và kiểm soát một cách hiệu quả các loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng, các nhà nghiên cứu rủi ro ngân hàng đã tiến hành phân tích rủi ro trên nhiều khía cạnh, dưới các giác độ khác nhau, phân loại rủi ro theo nhiều tiêu thức khác nhau. Một tập hợp về phân loại rủi ro ngân hàng được nhiều nước công nhận gồm 4 loại chủ yếu sau: - Rủi ro tín dụng - Rủi ro thị trường - Rủi ro thanh khoản - Rủi ro hoạt động. Trong đó các loại rủi ro trước đây được xem xét một cách độc lập nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau được quy tụ cùng nhóm như: rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất nay được quy vào nhóm rủi ro thị trường và nhóm rủi ro hoạt động tập hợp các rủi ro liên quan đến việc tổ chức vận hành hệ thống bộ máy kinh doanh.
Ảnh hưởng của rủi ro Trong kinh tế thị trường, hệ thống ngân hàng được ví như hệ thống thần kinh của nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng quốc gia hoạt động thông suốt, lành mạnh và hiệu quả là tiền đề để các nguồn lực tài chính luân chuyển, phân bổ và sử dụng hiệu quả, kích thích tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền và tạo công ăn việc làm. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường rủi ro là không thể tránh khỏi mà đặc biệt là trong hệ thống ngân hàng. Rủi ro không chỉ ảnh hưởng tới bản thân mỗi ngân hàng mà từ đó còn ảnh hưởng tới nền kinh tế nói chung.
Đối với bản thân các ngân hàng, rủi ro sẽ gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng: mất vốn khi cho vay, gia tăng chi phí hoạt động, giảm sút lợi nhuận, giảm sút giá trị của tài sản; dẫn tới khả năng ngân hàng có thể thua lỗ thậm chí là phá sản, điều đó sẽ ảnh hưởng đến những khách hàng gửi tiền 6 cũng như khách hàng vay tiền,… làm giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng. Đối với nền kinh tế: làm nền kinh tế suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp, sẽ kéo theo sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh tế chính trị, xã hội của một nước và có thể lan rộng sang quy mô quốc tế. Rủi ro lãi suất 1.
Khái niệm rủi ro lãi suất Khi lãi suất thị trường thay đổi, ngân hàng thấy rằng những nguồn thu chính từ danh mục cho vay và đầu tư chứng khoán cũng như chi phí đối với tiền gửi và các nguồn vay đều bị tác động. Ngoài ra, sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến giá trị thị trường của tài sản Có (TSC) và tài sản Nợ (TSN), làm thay đổi giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Vì vậy, lãi suất thay đổi tác động đến toàn bộ Bảng cân đối kế toán và Báo cáo thu nhập của ngân hàng. Như vậy, rủi ro lãi suất là nguy cơ biến động thu nhập và giá trị ròng của ngân hàng khi lãi suất thị trường biến động.
Có thể hiểu rằng rủi ro lãi suất thể hiện rủi ro tiềm tàng của một ngân hàng do các biến động của lãi suất. Đây là rủi ro mang tính đặc trưng của bất kỳ một NHTM nào. Nguyên nhân của rủi ro lãi suất Thứ nhất, sự biến động của lãi suất thị trường Lãi suất là giá cả của tín dụng, giá mà người cho vay đặt ra để đánh đổi quyền sử dụng vốn cho vay của họ. Nói cách khác, lãi suất là tỷ lệ giữa mức phí phải trả để nhận được quyền sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định trên tổng số tiền vay.
Một ngân hàng dù quy mô lớn đến đâu và dù đứng bên phía cung hay phía cầu của thị trường cũng không thể tự xác định mức lãi suất hoặc xác định chắc chắn về xu hướng vận động của lãi suất. Lãi suất cũng như bất kỳ 7 một loại giá cả nào khác được hình thành tự nhiên và khách quan theo quy luật cung cầu của thị trường. Như vậy, mỗi ngân hàng chỉ có thể phản ứng và điều chỉnh hoạt động của mình theo sự biến động lãi suất để đạt được mục tiêu mong muốn một cách hiệu quả nhất. Có nhiều nhân tố khác nhau có thể tác động làm thay đổi mức lãi suất cân bằng trên thị trường.
Có thể liệt kê một số nhân tố cơ bản như sau: Nhân tố thứ nhất có ảnh hưởng đến mức lãi suất cân bằng là lạm phát dự tính. Khi lạm phát dự tính xảy ra, lãi suất sẽ tăng. Kết quả này được gọi là Hiệu ứng Fisher. Với một lãi suất cho trước, khi lạm phát dự tính tăng lên, chi phí thực của việc vay tiền giảm xuống do đó lượng cầu quỹ cho vay tăng lên ở bất kỳ lãi suất nào cho trước và đường cầu quỹ cho vay dịch chuyển về bên phải.
Đồng thời, khi lạm phát dự tính tăng lên, có nghĩa là giá cả hàng hóa dự tính tăng, do đó lợi tức dự tính của những tài sản thực tăng, trong khi đó tiền tệ mất giá sẽ làm sụt giảm lợi tức dự tính của những tài sản tài chính so với tài sản thực. Do vậy, người có tiền có xu hướng chuyển sang nắm giữ nhiều hơn các tài sản thực, hạn chế việc cho vay tiền làm lượng cung về quỹ cho vay giảm ở bất kỳ lãi suất nào cho trước và đường cung quỹ cho vay dịch chuyển sang trái. Nhân tố thứ hai có tác động làm thay đổi lãi suất thị trường là giai đoạn phát triển trong chu kỳ kinh doanh. Trong giai đoạn phát triển của một chu kỳ kinh doanh, tổng số hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế tăng lên khiến cho thu nhập quốc dân tăng lên.
Nhu cầu về các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong xã hội gia tăng đòi hỏi các doanh nghiệp phải tăng cường việc cung ứng, đồng nghĩa với việc họ sẽ có thêm nhiều cơ hội đầu tư kiếm lời. Khi đó, các doanh nghiệp có thêm nhu cầu vay tiền trong khi nguồn vốn tự tài trợ không tăng tương xứng. Điều này làm tăng mức cầu về quỹ cho vay và làm dịch chuyển đường cầu quỹ cho vay sang phải, làm 8 tăng mức lãi suất cân bằng. Mặt khác, khi chu kỳ kinh doanh phát đạt, thu nhập của mọi chủ thể trong xã hội đều tăng lên làm tăng khả năng cung ứng vốn tín dụng và đường cung quỹ cho vay cũng dịch chuyển sang phải, có tác động ngược lại, làm giảm mức lãi suất cân bằng.
Chính sách tiền tệ của NHTW cũng là một nhân tố quan trọng có tác động thay đổi lãi suất. Theo John Maynard Keynes, lãi suất cân bằng được xác định dựa vào lượng cung - cầu tiền tệ và việc xác định lãi suất cân bằng theo cách này có cùng kết quả với việc xác định theo lý thuyết cung cầu quỹ cho vay. Trong khi đó, khối lượng tiền cung ứng phụ thuộc vào việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW. Khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt (hoặc mở rộng) thông qua các công cụ như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn, thị trường mở,.
sẽ tác động đến cung tiền tệ làm cho cung tiền tệ giảm xuống (hoặc tăng lên), do đó làm giảm cung quỹ cho vay (hoặc tăng), từ đó tác động làm tăng (hoặc giảm) lãi suất. Tuy nhiên, Keynes giả định “các yếu tố khác không thay đổi” không hoàn toàn phù hợp với thực tế. Theo Milton Friedman, phân tích trên được xem là tác động tính lỏng của sự thay đổi lượng tiền cung ứng, bên cạnh đó còn có thêm các tác dụng khác: tác động mức giá, thu nhập và lạm phát dự tính. Những tác động này có ảnh hưởng theo chiều hướng ngược lại đối với mức lãi suất cân bằng thị trường.
Như vậy, trên thực tế, khi mức cung tiền tăng lên, lãi suất thị trường sẽ tăng hay giảm còn phụ thuộc vào độ lớn và thời gian phát huy của các tác động trên. Nói chung, tác động tính lỏng của sự thay đổi mức cung tiền hữu hiệu ngay tức khắc vì việc tăng lượng tiền cung ứng dẫn đến sự giảm ngay tức khắc lãi suất cân bằng. Tác động thu nhập và mức giá cần có thời gian để phát huy kết quả vì lượng tiền cung ứng tăng lên cần có thời gian để tác động làm tăng mức giá và thu nhập, từ đó mới làm tăng lãi suất. Tác động lạm phát dự tính cũng làm tăng lãi suất, có thể tác dụng chậm hay nhanh tùy theo liệu 9 dân chúng điều chỉnh dự tính lạm phát của họ cho đúng một cách nhanh chóng hay chậm trễ khi lượng tiền cung ứng tăng lên.