Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến ý thức tự lực, tự cường của dân tộc 1. Những công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến ý thức dân tộc Ở Việt Nam đã có nhiều công trình khoa học được công bố về ý thức dân tộc. Cuốn sách của tác giả Trần Văn Giàu (1980) về: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam [46].
Đây là một nghiên cứu mang tính hệ thống về chủ đề giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam. Phân tích từ các góc độ như sử học, triết học và đạo đức học, tác giả đã nghiên cứu, phân tích và tổng hợp đưa ra những luận giải sâu sắc về các giá trị truyền thống đặc thù của dân tộc Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử. Cuốn sách gồm 11 chương, tập trung phân tích 7 đức tính tốt đẹp của dân tộc Việt Nam đó là: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa. Trong đó yêu nước là giá trị được đặt tại vị trí hàng đầu và quan trọng nhất, cũng là thước đo tiêu chuẩn cho mọi thước đo.
Theo tác giả yêu nước thực sự trở thành một thứ vũ khí tinh thần đặc biệt quan trọng: “Vận nước suy hay thịnh, mất hay còn, nhục hay vinh, phần rất quan trọng là tùy thuộc ở chỗ ta ứng dụng và phát huy hay ta quên lãng và chôn vùi món vũ khí tinh thần ấy” [46, tr. Và 6 phẩm chất tiếp theo trong cuốn sách được trình bày một cách có hệ thống và khoa học, với ý nghĩa giống như một “bảng giá trị tinh thần” của người Việt Nam. Mỗi giá trị đều được tác giả phân tích sâu sắc từ quá trình hình thành, nội dung cơ bản đến ý nghĩa. Ý thức tự lực, tự cường của dân tộc được tác giả nhắc tới trong tinh thần yêu nước, đức tính cần cù, sự lạc quan, óc sáng tạo và đức tính vì nghĩa của dân tộc.
Mặc dù chưa đi vào phân tích cụ 8 thể, nhưng tác giả đã góp phần cho thấy mối quan hệ biện chứng giữa ý thức tự lực, tự cường của dân tộc và các giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc. Cuốn sách: Xây dựng ý thức và tình cảm dân tộc chân chính cho con người Việt Nam trước những thách thức mới của tác giả Nguyễn Thị Ngân (2003) [97], từ góc nhìn triết học tác giả đã nhận định: Ý thức, tình cảm là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành nhân cách của con người. Xây dựng ý thức dân tộc có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Theo tác giả, ý thức dân tộc được thể hiện trong việc nhận thức của mỗi người khi tham gia các hoạt động xã hội với tư cách là một thành viên của cộng đồng dân tộc và liên hệ mật thiết với dân tộc đó.
Ý thức dân tộc cũng là một quá trình con người tự ý thức, tự tìm ra ý nghĩa tồn tại của mình trong cộng đồng dân tộc. Nội dung đầu tiên được tác giả đưa trong 04 nội dung cơ bản của ý thức và tình cảm dân tộc đó chính là lòng yêu nước và ý chí tự cường của dân tộc Việt Nam. Tác giả cho rằng, người Việt Nam có ý thức tự chủ, tự lực, tự cường do họ là những người dân bản địa sống lâu đời trên vùng lãnh thổ nhiều khó khăn, thách thức; phải chiến đấu, bảo vệ quốc gia; không dựa được vào ai nên phải tự lực và chính từ đó đã ý thức được sức mạnh to lớn, yếu tố “nội lực” mãnh liệt của dân tộc mình. Tác giả Phạm Huy Châu với bài viết: Về khái niệm dân tộc và chủ nghĩa dân tộc (2007) [18] đã phân tích các khái niệm về dân tộc, ý thức dân tộc, chủ nghĩa dân tộc.
Trong đó, tác giả nhận định: “Ý thức dân tộc là ý thức về cội nguồn dân tộc của mỗi con người: mình từ đâu đến? Sau đó là ý thức về quyền dân tộc: quyền làm chủ lãnh thổ, làm chủ đời sống vật chất và tình thần của dân tộc mình. Đó là tinh thần độc lập, tự chủ của mỗi dân tộc. Đó là quyền tự nhiên, mỗi thành viên của dân tộc đều thấy có nghĩa vụ thiêng liêng phải giữ gìn và bảo vệ” [18]. Bài viết Chủ nghĩa dân tộc và vấn đề quan hệ giữa các dân tộc trong thế giới hiện đại (2009) của tác giả Trịnh Minh Thái [115].
Từ góc nhìn triết 9 học, tác giả phân tích và đưa ra các quan điểm về dân tộc, chủ nghĩa dân tộc. Tác giả nhận định: có dân tộc sẽ có ý thức dân tộc (ý thức về cội nguồn dân tộc, bản sắc văn hóa, quyền dân tộc, mà trước hết là chủ quyền lãnh thổ, quyền độc lập, tự do, quyền làm chủ cuộc sống của mình trên lãnh thổ của dân tộc mình). Dân tộc tồn tại ở nơi mà mọi người đều tin tưởng rằng họ cấu thành dân tộc như vậy. Việc chối bỏ khái niệm dân tộc đòi hỏi phải chối bỏ các khái niệm sinh ra từ nó như tự ý thức dân tộc, nhà nước dân tộc, tự quyết dân tộc, quyền dân tộc tự quyết,… Tác giả Vũ Dũng với bài viết: Ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc và ý thức quốc gia (2009) [24] đã phân tích ý thức dân tộc dưới góc nhìn khác.
Ý thức giữ gìn bản sắc riêng của dân tộc mình là sự phản ánh ý thức dân tộc. Vì việc giữ gìn bản sắc riêng là ý thức khẳng định sự tồn tại của một dân tộc, để khẳng định dân tộc đó không bị đồng nhất bởi dân tộc khác. Khi nói đến ý thức dân tộc, thực tế là nói tới tự ý thức dân tộc. Tự ý thức dân tộc là đặc trưng quan trọng nhất để xác định về một dân tộc.
Tự ý thức dân tộc là cơ sở để mỗi thành viên xác định cho mình cách thức ứng xử và hành động trong quan hệ của cộng đồng, và trong mối quan hệ với các dân tộc khác. Tự ý thức được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống các dân tộc. Những công trình nghiên cứu trong nước liên quan đến ý thức tự lực, tự cường của dân tộc Tư tưởng của Phan Bội Châu, đặc biệt là tư tưởng dân tộc chủ nghĩa dưới nhãn quan triết học, ông đã viết tiểu luận “Triết luận” 1903- 1905. Tiểu luận được xếp các vấn đề: lẽ sống chết, sự báo ứng của quỷ thần, các nhà tôn giáo, lý và khí, thuyết tự do, thuyết bình đẳng, thuyết độc lập, thuyết tự cường, các vấn đề cứu nước… vào lĩnh vực triết học [15, tr.
Sự kết hợp giữa khát vọng và lý tưởng giải phóng dân tộc và thực tiễn lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là một điểm quan trọng trong tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu. Ông đã đưa ra nhận định: “Tự cường nghĩa là mình 10 tự đôn xúc lấy mình, dưỡng thành một sức mạnh ở giữa mình mà chẳng chờ ai giúp đỡ” [17, tr. Vì mình có tự cường thì cường đó mới là của bản thân mình. Nếu nhờ ai mà cường thì cường ấy chẳng phải của mình nữa.
Theo Phan Bội Châu, người Việt Nam cứ ngồi yên mà không cố gắng gì thì họ không những mất đi chủ quyền quốc gia mà sẽ diệt vong cả dân tộc. Đặc biệt, trong các tài liệu do Phan Bội Châu viết như Hải ngoại huyết thư (1906), ông khẳng định: “Tôi xin trình bày kế sách thu phục đất nước. Kế sách độc nhất vô nhị, cùng trời kiệt đất là sự đồng lòng của dân cả nước” [16, tr. Ông đã đặt tầm quan trọng của nội lực, của sức mạnh quần chúng nhân dân lên hàng đầu, chứ không phải trông chờ vào ngoại viện.
Trong cuốn sách: Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh mới (2011) của tác giả Nguyễn Xuân Thắng [114] đã phân tích cơ sở lý luận, thực trạng của vấn đề độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Tác giả đã nhận định rằng độc lập, tự chủ là cơ sở, điều kiện, tiền đề để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Đó là quá trình các quốc gia chủ động về mọi mặt, thể hiện được vị thế và tính tự lực, tự cường của quốc gia mình khi tham gia vào quá trình toàn cầu hóa. Cuốn sách: Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai (2016) của tác giả Trần Ngọc Thêm [117].
Tác giả đã có cách nhìn hệ thống chặt chẽ, nhất quán trong tư duy nghiên cứu về hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Thông qua việc tập trung phân tích các khái niệm học thuật, các phương pháp và các công cụ lý thuyết từ đó tìm hiểu về hệ giá trị văn hóa chung, phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam như: tính mực thước, lạc quan, vui vẻ, yêu đời, lòng biết ơn, trọng thể diện, trọng nữ… Tác giả đã sử dụng các phương pháp điều tra xã hội học để chọn lọc, tổng hợp và đưa ra hàng loạt các bảng biểu, số liệu thống kê chi tiết thể hiện rõ nét các quan điểm, nhận định, đúc rút các giá trị từ nền tảng truyền thống, bề dày văn hóa của dân tộc Việt Nam. 11 Từ đó, tác giả khái quát về những biến động của hệ giá trị Việt Nam truyền thống trong giai đoạn hiện đại. Theo tác giả trong những phẩm chất tinh hoa cần phát huy thì tính cộng đồng làng xã gồm tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh cá nhân, lòng tự trọng, tinh thần hợp tác, làm việc nhóm là một trong những nội dung cần hết sức chú trọng.
Đây là những nội dung cấu thành nên ý thức tự lực, tự cường của dân tộc là một trong những phẩm chất tinh hoa cần được phát huy. Từ đó, tác giả hướng tới việc xây dựng ý thức tự lực, tự cường của dân tộc là một trong những giá trị của hệ giá trị con người Việt Nam. Bài viết: Phát triển văn hóa, con người Việt Nam toàn diện theo tinh thần Đại hội XII của Đảng (2016) của tác giả Nguyễn Duy Bắc [11], đã luận giải và đề xuất 5 nhiệm vụ, giải pháp thực hiện mục tiêu về phát triển văn hóa, con người mà Đại hội XII của Đảng đề ra.