Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG VỊ TRÍ VIỆC LÀM TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm cơ sở giáo dục đại học Điều 5 Luật Giáo dục quy định: “Cơ sở giáo dục là tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm nhà trường và cơ sở giáo dục khác” [11]. Điều 4 Luật Giáo dục đại học quy định: “Cơ sở giáo dục đại học là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng” [11].
Cơ sở giáo dục đại học được tổ chức hoạt động giáo dục thường xuyên, cung cấp dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn cấp chứng chỉ, chứng nhận phù hợp với ngành, lĩnh vực đào tạo của mỗi cơ sở theo quy định của pháp luật để đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người học. Cơ sở giáo dục đại học có tư cách pháp nhân, bao gồm đại học, trường đại học và cơ sở giáo dục đại học có tên gọi khác phù hợp với quy định của pháp luật. Có 2 loại hình cơ sở giáo dục đại học, bao gồm: 1/ Cơ sở giáo dục đại học công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và là đại diện chủ sở hữu; 2/ Cơ sở giáo dục đại học tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động. Các loại hình cơ sở giáo dục đại học bình đẳng trước pháp luật.
Căn cứ vào năng lực và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, cơ sở giáo dục đại học xác định mục tiêu phát triển, định hướng hoạt động như sau: Cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu; Cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng [11]. Khái niệm vị trí việc làm Điều 7 của Luật Viên chức nêu rõ: “VTVL là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ 8 xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập” [12]. Khoản 3 Điều 7 Luật cán bộ, công chức quy định: “VTVL là công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị” [13]. Như vậy, khái niệm "vị trí việc làm" đề cập đến một vị trí cụ thể trong một tổ chức hoặc doanh nghiệp có thể dành cho một cá nhân hay một nhóm người.
VTVL được hiểu một vị trí hoặc một chỗ làm việc trong một cơ quan, tổ chức, đơn vị mà ở đó công chức thực hiện một công việc hoặc một nhóm các công việc có tính ổn định, lâu dài, thường xuyên, lặp đi lặp lại, có tên gọi cụ thể theo chức danh, chức vụ hoặc theo tính chất công việc và được gắn liền với quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức đó. Mỗi vị trí việc làm bao gồm bốn thành phần chính: 1/ Tên gọi VTVL (chức danh); 2/ Nhiệm vụ và quyền hạn mà người đảm nhiệm VTVL cần phải thực hiện (chức trách); 3/ Yêu cầu về trình độ và kĩ năng chuyên môn mà người đảm nhiệm VTVL phải đáp ứng (tiêu chuẩn); 4/ Tiền lương và các điều kiện làm việc. Mỗi vị trí việc làm thường đi kèm với một tập hợp các trách nhiệm, nhiệm vụ và kỹ năng cụ thể mà người giữ vị trí đó cần phải thực hiện. Mỗi vị trí việc làm bao gồm bốn thành phần chính: 1/ Tên gọi VTVL (chức danh): Tên chức danh hoặc vị trí mà người đó giữ.
2/ Nhiệm vụ và quyền hạn mà người đảm nhiệm VTVL cần phải thực hiện (chức trách): Mô tả chi tiết về nhiệm vụ, trách nhiệm và kỹ năng cần thiết cho vị trí đó. Mô tả công việc thường mô tả các hoạt động hàng ngày, mục tiêu và kỳ vọng từ người làm. 3/ Yêu cầu về trình độ và kĩ năng chuyên môn mà người đảm nhiệm VTVL phải đáp ứng (tiêu chuẩn): Các yêu cầu về học vấn, kinh nghiệm làm việc và kỹ năng mềm cần thiết để làm việc hiệu quả trong vị trí đó. 4/ Các điều kiện làm việc: Thông tin về môi trường làm việc, giờ làm việc và các điều kiện khác liên quan đến vị trí.
9 5/ Lợi ích và các chế độ phúc lợi: Các phúc lợi và chế độ khác nhau mà người làm có thể hưởng khi giữ vị trí này, chẳng hạn như bảo hiểm y tế, phúc lợi gia đình, hay lương thưởng. VTVL được thể hiện dưới hình thức bản mô tả công việc và khung NL để thực hiện công việc đó. Mỗi VTVL đều đòi hỏi người làm việc phải có một trình độ và NL nhất định. Vì thế, VTVL chính là căn cứ để có thể xác định được số lượng cũng như cơ cấu công việc và chất lượng nguồn nhân lực có thể đảm bảo thực hiện những nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị; đồng thời cũng là căn cứ giúp cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị xác định được trình độ, NL của nguồn nhân lực để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cũng như tuyển dụng, sắp xếp hợp lí nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của từng VTVL.
Vị trí việc làm là một phần quan trọng trong quản lý nhân sự và tạo ra sự cụ thể hóa về những gì được mong đợi từ mỗi người làm trong tổ chức. Đối với người tìm việc, việc hiểu rõ vị trí việc làm là quan trọng để có thể thích ứng và thực hiện tốt nhất công việc của mình. Khái niệm khung năng lực Khung năng lực là một công cụ mô tả các năng lực cần thiết phù hợp với một dạng hoạt động cụ thể, nghề nghiệp, tổ chức hoặc ngành nghề cụ thể. Khung năng lực mô tả sự kết hợp cụ thể về kiến thức, kỹ năng và những đặc tính cá nhân khác cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả cao.
Cấu trúc của khung này phải hỗ trợ việc sử dụng các năng lực qua những chức năng nguồn nhân lực được lựa chọn. Khung năng lực bao gồm các chỉ số hay tiêu chuẩn kết quả công việc có thể đo lường và quan sát được. Xây dựng khung năng lực tạo chỉ dẫn thực hiện một loạt hoạt động quản lý nguồn nhân lực khác nhau và đảm bảo tính nhất quán trong việc thực hiện. Trong hệ thống công vụ, khung năng lực có mục tiêu hỗ trợ thể chế hóa cách thức quản lý theo năng lực và quản lý theo kết quả.
Khung năng lực mô tả các năng lực mà một cán bộ, nhân sự phải có để đủ khả năng thực thi ở những cấp độ nhất định. Trong khi đưa ra hướng dẫn về xây dựng các năng 10 lực chuyên môn nghiệp vụ, khung này đồng thời nhận diện các năng lực chung và năng lực cốt lõi mà cán bộ, nhân sự nào cũng cần có để hoạt động hiệu quả, năng suất và tiên bộ trong công việc của mình. Khung năng lực liên quan đến các năng lực của cá nhân hoặc tổng các năng lực cá nhân phù hợp với tất cả các vai trò và trách nhiệm xuyên suốt trong toàn hệ thống công vụ. Bên cạnh đó, khung năng lực cũng cần xác định các phẩm chất và hành vi thích ứng cần thiết để ứng phó với môi trường công tác và công nghệ đang ngày càng thay đổi.
Do vậy, người lao động cần phải thích ứng, đổi mới, sáng tạo, tự định hướng và tự tạo động lực, chứng minh qua năng lực của mình trong thực thi nhiệm vụ. Trong nghiên cứu này, khái niệm “Khung năng lực là công cụ mô tả các năng lực cần thiết phù hợp với một dạng hoạt động cụ thể, nghề nghiệp, tổ chức hoặc ngành nghề cụ thể mà một người lao động phải có để đủ khả năng thực thi ở những cấp độ nhất định, bao gồm các chỉ số hay tiêu chuẩn kết quả công việc có thể đo lường và quan sát được”. Khái niệm xây dựng vị trí việc làm tại các cơ sở giáo dục đại học Xây dựng VTVL tại các cơ sở giáo dục đại học là việc xác định công việc hoặc nhiệm vụ gắn với từng chức danh nghề nghiệp trong Trường hoặc chức vụ quản lý tương ứng; là cơ sở để xác định số lượng người làm việc, cơ cấu cán bộ nhân viên để thực hiện tuyển dụng, sử dụng và quản lý đội ngũ người lao động trong Trường; là căn cứ để tuyển dụng đúng người, đánh giá trình độ, năng lực của nhân sự, sắp xếp hợp lí nguồn nhân lực góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo của Trường. Xác định VTVL tại các cơ sở giáo dục đại học có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp cho trường ĐH xác định được số lượng, cơ cấu công việc và chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên; Là căn cứ để sắp xếp bộ máy hành chính của trường ĐH; Là cơ sở để tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá và xây dựng chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ người lao động.
11 Xây dựng VTVL tại các cơ sở giáo dục đại học cần đảm bảo các nguyên tắc sau đây: Trước hết, phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của trường ĐH. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của trường ĐH được quy định tại Điều 14 và Điều 28 của Luật GDĐH; Điều 5 và Điều 6 của Điều lệ trường ĐH. Dựa trên các quy định của Luật GDĐH và Điều lệ trường ĐH, các cơ sở GDĐH có thể xây dựng, ban hành quy chế tổ chức và hoạt động; các quy định nội bộ khác phù hợp với điều kiện đặc thù của nhà trường. Vì thế, khi xác định VTVL trong trường ĐH, một mặt, phải dựa trên các quy định của Luật GDĐH và Điều lệ trường ĐH về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của trường ĐH, mặt khác, phải dựa trên quy chế tổ chức và hoạt động; các quy định nội bộ khác của trường ĐH.
Thứ hai, xây dựng VTVL phải bảo đảm tính khoa học, khách quan, công khai, minh bạch và phù hợp với điều kiện thực tế của trường ĐH. Bảo đảm tính khoa học, đòi hỏi việc xác định VTVL của cán bộ nhân viên trường ĐH phải được tiến hành theo phương pháp tổng hợp (kết hợp giữa hoạt động phân tích tổ chức và phân tích công việc).