Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG 'CHO SINH VIÊN KHOA GIÁO ĐỤC TIỂU HỌC - MAM NON ‘TRUONG DAT HOC 1⁄1. SƠ LƯỢC LICH SU NGHIEN CUU VE VAN DE VAN HOA NHA TRUONG 1. Các nghiên cứu nước ngoài Thuật ngữ "Văn hóa tổ chức” là một khái niệm trong khoa học tổ chức ~ quản lý xuất hiển lần đầu tiền trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960, va cho đến ngày nay khái niệm này được phổ biến rộng rải trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có giáo dục. Các nghiên cứu về van hoá tổ chức như: “Văn hoá tổ chức là những niễm tin, thái độ và giá trị tồn tại phổ biển và tương đối ôn định trong tổ chức” Williams, A.
Dobson, P & Walters); “Van hod thé hién tng hợp các giá trị và cách hành xử phụ thuộc lẫn nhau phổ biển trong tổ chức và có xu hướng tự lưu truyền trong thời gian dai”.); Phẩm chất riêng biệt của tổ chức được nhận thức "phân biệt nó với các tổ chức khác trong lĩnh vực.); Văn hoá tổ chức là toàn bộ các giá trị. niễm tin, truyền thống và thói quen có khả năng quy định hành vi của mỗi thành viên trong tổ chức, mang lại cho tô chức môt bản sắc riêng, ngày càng phong phú thêm và có thể thay đổi theo thời gian. Qua những nghiên cứu trên đã là rõ được nội hàm của "văn hóa tổ chức”. Văn hóa tổ chức diễn ra mạnh mẽ ở nữa cuối thế kỷ XX.
các công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường theo tiếp cận VHNT có nhiều quan niêm khác nhau, như quản lý nhà trường dựa vào văn hóa hợp tắc, dựa vào năng lực văn hóa trong nhà trưởng.Được thể hiện qua các công trình nghiên cứu của các tác giá như. đưa ra các biên pháp. nhằm phát huy sự nỗ lực của giáo viên (GV) và các nhà quản lý để phát triển VHNT. một cách chuyên nghiệp, có khả năng hỗ trợ việc đối mới liên tục vẻ phương pháp.
giảng dạy, bầu không khí sư phạm, kiến tạo sự tìn tướng được chia sẻ và đáp ứng cho. tất cả người học biết làm việc theo nhóm và trao đổi về các vấn để; Cross và các đồng sự (1989), Bazon (1989), Dennis (1989), Issaac và Binjamin (1991) đã tìm hiểu về năng lực vẫn hóa (VH) nhắm khuyến khích sự hiểu biết. trao đổi về ngôn ngữ, phối hợp giữa các gia đình, các nhà chuyên môn, người học và công đồng. Nhà trưởng là một tổ chức có chức năng giáo dục, bản thân chức năng ấy.
cùng với cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt đông đều bị chỉ phối bới văn hóa - văn hóa tổ. chức của nhà trưởng. Khi nghiên cứu về VHNT, Edgar H. Schein phân chia VHNT theo cấu trúc 3 thành tổ, gồm: Những quá trình và cấu trúc hữu hình (Artifacts); HE thống giá trị được tuyên bổ (Espoused values); Những quan niệm chung (Basic underlying assumption).
Một số tác giá khác quan tâm nghiên cứu vẫn đẻ VHNT có tác đông như thế nào tới các chủ thể và hoạt động trong nhà trưởng. cu thể như: Dewit vA mét số tác giá khi nghiên cứu vai trò của VHNT đối với sự thành công cúa học sinh đã nhóm các khía cạnh của VHNT vào 3 phạm trù chung. gồm: Không khí tâm lý - xã hội của nhà trường; Quản lý hành chính của nhà trường: Kiểu dạy và "học được thực hiện trong nhà trưởng. Các nghiên cứu ở nước ta Ở Viết Nam, các khái niệm về văn hóa, văn hóa tô chức, VHNT còn khá mới nên có ít người quan tâm; tuy nhiên khi tác phẩm Viế? Nom văn hóa sử cương của Đào Duy Anh (1938) ra mắt bạn đọc đã tạo nên bước ngoặt cho ngành.
Van hóa học, từ đó có rất nhiễu công trình nghiên cứu vẻ văn hóa như “Van hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới" (1994) của Phan Ngọc: “Văn hóa học đại cương và Cơ sở văn hóa Việt Nam" (1996) của Trần Quốc Vượng; “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (1997) của Trằn Ngọc Thêm. Về VHNT, những năm gần đây có một số tắc giả như: - Vũ Đức Thanh (2001), Xây dựng môi trường văn hỏa cơ sở, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Hà Nội: - Pham Hỗng Quang (2006), Môi trường giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục; - Nguyễn Thị Kim Ngân (2009), Văn hóa giao tiếp trong nhà trưởng, Nhà 7 xuất bản Đại học Sư phạm Thành phổ Hỗ Chí Minh; = Dé Huy (2001), Xây đựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc. nhìn giá trị học, Viên văn học, Nhà xuất bản thông tin, Hà Nội Mặt khác, Văn kiện Đại hội của Đảng qua các thời ky, đặc biệt thời kỷ hội nhập luôn nhắn manh vai trò quan trọng xây đưng văn hóa Việt Nam, vẫn đẻ đạo.
‘Tai Đại hội đại biểu lần thứ XI, Đảng ta đã nhắn mạnh: “Việc ›bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện vẻ đạo đức, lồi sẵng, văn hóa, tư tưởng, chính trị. cho thể hệ trẻ Việt Nam hôm nay là trách nhiệm chung của toàn hệ thẳng giáo dục. chính trị và của toàn xã hội- là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của chiến lược phát triển giáo dục, kinh tế- xã hội sước £œ `[10]. Một số công trình nghiên cửu khoa học về vấn để đạo đức, lối sống, văn hóa của một số tắc giá như sau: ~ Luân án tiến sĩ "Xây đụng lỗi sống có văn háa của thanh niên thành phổ HỖ Chí Minh trong công cuộc đối mới theo định hướng xã hội chú nghĩa", của Đăng Quang Thành, Học viên Chính trị Quốc gia HCM, năm 2004; - Luận văn thạc sĩ "Sự biển đối đạo đức của sinh viên Việt Nam hiện nay” của Bùi Thu Huyền, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 201 1; - Luận văn thạc sĩ “Biển pháp xây dụmg văn hóa nhà trường ở trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định” của tác giả Lê Thì Ngoãn, Trường Đại học Thái Nguyên.
năm 2009; ~ Luận văn thạc xĩ "Biện pháp xây dựng văn hóa học đường của Hiệu trướng Trường Tiểu học huyện Thới Bình. tỉnh Cà Mau”, của tác giả Nguyễn Văn Vinh, trường Đại học Đẳng Tháp, năm 2016. Tại Trưởng Đại học Đồng Tháp đã có tác giá Lương Thanh Tân nghiên cứu về “Giáo dục thâm mĩ trong việc hình thành lỗi sông văn háa cho thanh niên vùng Đẳng bằng xông Cửu Long hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2010 và “Vai trò của giáo dục thẩm mï trong xây dựng lỗi sông vân hóa cho. xinh viên trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2012.
Nhìn chung, điểm chung cúa các công trình nghiên cứu trên đây biểu đạt sự cẩn thiết xây dựng VHNT và chỉ ra VHNT ảnh hướng đến chất lượng giáo dục và đào tạo cúa các cơ sở trường học, dân dân trở thành thành tô quan trọng trong mỗi nhà trưởng ~ Văn hóa tổ chức của học đường (văn hóa học trưởng). Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện nay tại Trường Đại học Đồng Tháp nói chung, Khoa Giáo dục Tiểu học - Mắm non nói riêng chưa có công trình, để tài khoa học nghiên cửu nào về xây dựng VHNT cho sinh viên. Vì vậy, có thé coi đây là công trình nghiên cứu mới mẻ, rất mong được sự hỗ trợ của các nhà khoa học và quản lý giáo dục để kết quả nghiên cứu mang lại giá trị khoa học và thực tiễn, góp phần hoàn thiện hoạt động xây dựng môi trường văn hóa giáo dục trong các cơ sở. giáo dục đại học vùng Đồng bằng sông Cứu Long.
CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA DE TAL 1.1, Quan lý, quản lý nhà trường và chức năng quản lý nhà trường. Quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hôi được hình thành và phát triển khi có sự xuất hiện cùng lao đông chung của xã hội loài người. Các Mác viết “Tất cả mọi lao đông xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiền hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiễu cũng đều cẫn đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhần và thực hiên những chức năng chung phát sinh từ vân đông của toàn bộ cơ thể khác với sự vân động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cằm tự điều khiển lấy mình, còn một dần nhạc thì cân phải có nhạc trưởng” [19].
Quan lý theo quan điểm của các nhà lý luận quản lý thể giới: ~ Theo C. Mác: "Quân lý là loại lao động sẽ điều khiển mọi quá trình lao động phát triển xã hội” [19]: ~ Theo Frederick Winslow Taylor: “Quản lý là biết chính xác điều ban muốn người khác làm và sau đó hiểu rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [L2, tr 12]: - Theo Henri Fayol (1841- 1925) nhà quản lý người Pháp và Max Weber (1864 - 1920) người Đức đều khẳng định: Quản lý là một khoa học. đồng thời là 19 một nghệ thuật thúc đây sự phát triển của xã hôi. Quán lý theo quan điểm của các tác giả người Việt Nam: - Theo Đăng Quốc Bảo, bán chất của hoạt động quán lý gôm hai quá trình tích hợp và nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ỗn định"; quá trình "!Òý” gồm sự sửa sang.
sắp xếp, đổi mới hệ đưa hệ vào thế “phát triển"; theo đồ trong "quản" phái có "lý" và trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ởthế cân bằng đông. Như vậy “quán lý” là sự trông coi, chăm sóc, sửa sang, làm cho sự vật ôn định và phát triển [2]: ~ Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là sựtác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”; ~ Tác giá Nguyễn Ngọc Quang: "Quán lý là hoạt động có định hướng. có kế hoạch của chú thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ. chức, nhằm đạt được mục đích nhất định” [22]: - Theo Đăng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản !ý là một quả trình định thưởng, quá trình cỏ mục tiêu, quản lý một hệ thông nhằm đạt được những mục.
tiêu nhất định " [13]: - Tác giả Trần Kiém:"Quén lý là những tác động của chứ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sứ dụng, diéu chính, điểu phổi các nguồn lực trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhất nhằm đạt mục địch của tổ chức với hiệu quả cao nhất" [16].