CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Văn hóa nói chung và văn hoá nhà trường nói riêng là một trong những chủ đề hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Tác giả xin điểm qua những công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: Các tác giả Frank Gonzales (1978) và Kent D.Peterson (2002) đã có các công trình nghiên cứu bàn về cấu trúc và các biểu hiện của VHNT.
Theo Frank Gonzales (1978), tương tự văn hóa tổ chức, văn hoá nhà trường giống như một tảng băng, có văn hóa biểu hiện ở bề mặt và văn hóa biểu hiện ở chiều sâu. Trong đó, bề mặt văn hóa là những thành tố vật chất dễ quan sát và dễ thay đổi. Bề sâu của văn hóa là những yếu tố thuộc tinh thần như các giá trị, niềm tin và các ý nghĩ của con người mà chúng ta khó quan sát hoặc khó thay đổi [20].Peterson (2002) cho rằng “Môi trường văn hoá nhà trường tích cực, các thành viên luôn có ý thức chung về sự kết nối giữa các cá nhân, ý thức được chia sẻ rộng rãi về sự tôn trọng và chăm sóc cho mọi người. Còn môi trường văn hóa chứa đựng các yếu tố tiêu cực sẽ tác động xấu đến hiệu quả giáo dục cũng như các hoạt động khác của nhà trường” [21].
Purkey và Smith (1982) xác định VHNT như một kết cấu, một quá trình và một không gian của các giá trị và chuẩn mực có khả năng dẫn các thành viên (các giáo viên, học sinh và cán bộ nhân viên) theo hướng dạy và học chất lượng. Như vậy, tác giả này nhấn mạnh đến yếu tố giá trị và chuẩn mực trong VHNT. Yếu tố có vai trò định hướng và điều chỉnh các hoạt động của người dạy và người học, của các cán bộ nhân viên của nhà trường. Nói cách khác các giá trị và chuẩn mực của nhà trường và của xã hội định hướng và điều chỉnh hành vi của các thành viên trong tổ chức nhà trường [23].
Một số tác giả khác quan tâm nghiên cứu vấn đề sự tác động của yếu tố VHNT đến hiệu quả giáo dục của nhà trường và vai trò của chủ thể quản lý tới xây dựng VHNT. Theo hướng nghiên cứu này, tác giả Dewit và nhóm cộng sự (2003) đã tìm hiểu VHNT từ góc độ vai trò của VHNT đối với kết quả học tập và hành vi của học sinh. Ở đây, VHNT như là cơ sở, chuẩn mực để học sinh học tập và hành động. Mọi nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh đều lấy VHNT để quy chiếu [17].
Nghiên cứu văn hoá nhà trường ở cấp độ đại học, tác giả Bartell, (2003) cho rằng “Văn hoá nhà trường bao gồm toàn bộ hoạt động của các thành viên trong nhà trường (Hiệu trưởng, giảng viên, nhân viên, học viên, sinh viên), các nghi thức giao tiếp; hệ thống các giá trị; các chuẩn mực xử sự, các câu chuyện. 6 Bàn về vai trò của hiệu trưởng đối với VHNT, Terrence E. Peterson (2009) trong bài viết “Shaping School Culture: Pitfalls, Paradoxes, and Promises” (Định hình văn hóa học đường: Cạm bẫy, Nghịch lý và Hứa hẹn) cho rằng hiệu trưởng là người được chọn để dẫn dắt chứ không chỉ quản lý nhà trường. Vì vậy, trước tiên hiệu trưởng phải hiểu rõ văn hóa của nhà trường, nhận thức được rằng văn hóa là vấn đề phức tạp bởi vì nó có những cách thức rất độc đáo và mang phong cách riêng.
Khi một tổ chức có sự hiểu biết rõ ràng về mục đích của nó, tại sao nó tồn tại, nó phải làm những gì thì sẽ đảm bảo mọi thứ hoạt động tốt. Khi các niềm tin, giá trị, thái độ, sự kỳ vọng, ý tưởng và hành vi của các thành viên trong một tổ chức không phù hợp với văn hóa thì sẽ gây cản trở cho tổ chức. Hiệu trưởng phải hiểu được vai trò quan trọng của văn hoá nhà trường trong việc phát triển một nhà trường thành công [24]. Những nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam hầu như chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện về lý luận xây dựng văn hoá nhà trường đại học.
Một số các công trình của tác giả Việt Nam tập trung chính vào các vấn đề như sau: Bàn về các thành tố của VHNT, Phạm Minh Hạc (1994) cho rằng VHNT bao gồm chủ thể là giảng viên, sinh viên, cán bộ công nhân viên; khách thể là hệ thống các giá trị văn hóa, các hình thức vận động văn hóa, cảnh quan văn hóa [5]. Tác giả Vũ Dũng (2009), bàn về một số vấn đề lý luận và thực tiễn của văn hoá học đường, cho rằng: “Văn hoá học đường là hành vi ứng xử của các chủ thể tham gia hoạt động đào tạo trong nhà trường, là lối sống văn minh trong trường học. Bao gồm quan hệ ứng xử của người thầy với người học; ứng xử của người học đối với người thầy; ứng xử của người lãnh đạo nhà trường và giáo viên; ứng xử giữa các đồng nghiệp với nhau [3]. Công trình nghiên cứu của tác giả Phạm Quang Huân trong báo cáo khoa học “Văn hóa tổ chức – Hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường”, Kỷ yếu Hội thảo Văn hóa học đường (2007) cho rằng VHNT là văn hóa tổ chức, do đó, VHNT mang đặc trưng hình thái của văn hoá tổ chức.
Tác giả phân tích 7 biểu hiện trong hình thái và cấp độ biểu hiện của VHNT đồng thời đưa ra 5 lí do để khẳng định tầm quan trọng của VHNT đối với chất lượng giáo dục: Văn hóa là tài sản lớn của bất kì một tổ chức nào, VHNT tạo động lực làm việc, VHNT hỗ trợ điều phối và kiểm soát, VHNT hạn chế tiêu cực và xung đột, văn hóa nâng cao chất lượng các hoạt động trong nhà trường [6]. Bàn về văn hóa tổ chức ở cấp độ trường đại học, tác giả Nguyễn Viết Lộc (2009) đã nghiên cứu trường hợp cụ thể Đại học Quốc gia Hà Nội và cho rằng đây là một tổ chức đặc thù gồm các tổ chức con với những khác biệt về văn hóa tạo thành một tổ chức lớn; khẳng định văn hóa tổ chức có vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo nên sự phát triển đột phá và bền vững cho tổ chức nhờ phát huy được nguồn lực nội sinh và tìm kiếm, dung nạp các nguồn lực ngoại sinh [11]. 7 Trong những năm gần đây, một số luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ ngành Quản lý giáo dục đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề này. Có thể nêu dẫn một số công trình nghiên cứu cụ thể sau: Tác giả Lê Thị Ngọc Thúy (2012), Luận án tiến sĩ “Quản lý nhà trường tiểu học Việt Nam theo tiếp cận văn hóa tổ chức”.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý nhà trường tiểu học theo hướng tiếp cận văn hóa tổ chức, tác giả đã xây dựng bộ công cụ để khảo sát VHNT tiểu học tập trung vào ba thành tố cơ bản của VHNT đó là văn hóa quản lý, văn hóa học tập và văn hóa giảng dạy. Quản lý nhà trường theo quan điểm tiếp cận văn hóa tổ chức là một hướng quản lý mới có tác dụng rất tích cực nhằm nâng hiệu quả nhà trường. Tác giả Nguyễn Đình An (2018), Luận văn thạc sĩ “Quản lý văn hóa nhà trường tại Phân hiệu Đại học FPT Đà Nẵng”. Luận văn đã hệ thống hóa lý luận về quản lý VHNT, xác định được nội dung xây dựng VHNT và quản lý VHNT dựa trên phân tích các yếu tố bề nổi và bề chìm của VHNT.
Tác giả cũng đề ra những biện pháp quản lý VHNT, trong đó có biện pháp mang tính mới đó là xây dựng bộ nhận diện thương hiệu trong quản lý VHNT. Tác giả Hoàng Quốc Đạt (2018), Luận án tiến sĩ “Quản lý xây dựng văn hoá nhà trường trung học cơ sở thành phố Hồ Chí Minh”. Điểm mới của luận án là xây dựng được 5 tiêu chí về các giá trị vật chất và 5 tiêu chí về giá trị tinh thần, với tổng số 40 chỉ số để xác định các tiêu chí xây dựng văn hóa nhà trường THCS. Tác giả Vũ Thị Quỳnh (2018), Luận án tiến sĩ “Phát triển văn hoá nhà trường Cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông hồng trong bối cảnh đổi mới giáo dục” đã đưa ra 4 bước phát triển VHNT cao đẳng sư phạm và 7 nội dung phát triển VHNT.
Tác giả Nguyễn Thị La (2019), Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục “Quản lý xây dựng văn hóa nhà trường tại Học viện Hành chính Quốc gia”. Luận án đã xây dựng được một số vấn đề lí luận cơ bản về quản lý xây dựng VHNT tại các trường đại học, học viện là cơ sở khoa học để có thể tiến hành các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực quản lý giáo dục ở Việt Nam hiện nay. Kết luận: Các công trình nghiên cứu VHNT ở nước ngoài rất phong phú và đa dạng, được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Dù có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau nhưng các tác giả đều đi đến được sự đồng thuận nhất định đó là muốn xây dựng VHNT cần phải có quá trình, có sự lãnh đạo ảnh hưởng của CBQL nhà trường và có sự tham gia của tất cả các thành viên trong nhà trường.
Ở Việt Nam, quan điểm VHNT còn khá mới mẻ với các nhà nghiên cứu và các lực lượng giáo dục. Tuy có một số nghiên cứu cũng đã nêu ra một số hướng để xây dựng VHNT và quản lý xây dựng VHNT ở nước ta trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhưng các nghiên cứu cũng chỉ là những cách tiếp cận theo một quan điểm của một tác giả nước ngoài, chưa có sự tổng hợp và áp dụng mang tính đặc thù trong xây dựng VHNT ở từng cấp bậc, loại hình đào tạo của nhà trường. Xây dựng VHNT chưa thực 8 sự trở thành một nhiệm vụ quan trọng của nhà quản lý ở trường học. Do đó, trong những năm qua, công tác QLXD VHNT ở Trường Đại học Bách Khoa-Đại học Đà Nẵng chưa được quan tâm đúng mức.
Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài này với kỳ vọng để làm sáng tỏ cơ sở lý luận về việc xây dựng VHNT trong trường đại học, đồng thời đề xuất những biện pháp trong công tác QLXD VHNT nhằm góp phần xây dựng một môi trường công tác tích cực cho CBGV và SV, trên cơ sở đó góp phần thực hiện tốt mục tiêu đào tạo của Trường Đại học Bách Khoa-Đại học Đà Nẵng trong giai đoạn phát triển sắp đến.