Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 5" của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh (ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Hùng Vương, năm 2019, dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Thị Hồng Chi) đặt trong bối cảnh đổi mới giáo dục toàn diện nhằm hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Ở bậc tiểu học, tự đánh giá là một năng lực then chốt giúp học sinh chuyển từ thế bị động sang chủ động, tự nhận biết lỗ hổng tri thức để tự điều chỉnh quá trình nhận thức. Môn Toán giữ vai trò trọng yếu trong việc rèn luyện tư duy logic, thao tác trừu tượng hóa và phân tích tổng hợp. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra rằng trong thực tiễn, nhiều giáo viên vẫn thiên về truyền thụ một chiều, chưa chú trọng phát huy tính tích cực và kỹ năng tự đánh giá của học sinh thông qua hệ thống bài tập.
Mục tiêu chung của đề tài là xây dựng hệ thống bài tập tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 5 và đề xuất các biện pháp sư phạm sử dụng hệ thống bài tập đó nhằm rèn luyện, phát triển kỹ năng tự đánh giá cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường tiểu học.
Bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định trong văn bản gồm:
- Tìm hiểu cơ sở lí luận việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 5.
- Tìm hiểu thực trạng việc xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 5 ở trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đề xuất quy trình xây dựng và biện pháp sử dụng hệ thống bài tập tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 5.
- Thử nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của quy trình xây dựng hệ thống bài tập tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 5.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là mối quan hệ giữa hệ thống bài tập tự đánh giá kết quả học tập môn Toán lớp 5 và hoạt động dạy học trong nhà trường tiểu học. Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung tập trung vào hệ thống bài tập tự đánh giá môn Toán lớp 5; phạm vi không gian là Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ; thời gian thực hiện hoàn thành vào tháng 5 năm 2019.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Về mặt lý luận, khóa luận tiếp cận tự đánh giá từ lý thuyết kinh nghiệm học tập của Lewin, được Kolb (1984) và Schön (1984) phát triển, cùng các nghiên cứu quốc tế của Baron (1990), Rolheiser (1996 - mô hình lý thuyết tự đánh giá), Jean Cardinet (giáo dục cá thể), Rowntree (1977), Ross và cộng sự (1998), Patric Griffin (tự đánh giá kết hợp phân tích SWOT cá nhân: Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats) và tổ chức AAIA tại Anh. Tại Việt Nam, tác giả dựa trên các công trình nền tảng của Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc (nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất giữa đánh giá và tự đánh giá), Trần Kiều (tự đánh giá là 1 trong 11 vấn đề lý luận cần đổi mới trong đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông), và Vũ Tế Xiển.
Khóa luận làm rõ các khái niệm: bài toán theo nghĩa hẹp ở tiểu học (bài tập trong sách giáo khoa); ba chức năng của bài tập toán (dạy học, giáo dục, kiểm tra); hai hình thức bài tập (trắc nghiệm khách quan và tự luận); các định hướng đổi mới đánh giá học sinh tiểu học (đánh giá thường xuyên và định kỳ) theo chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Toán lớp 5 với 4 mức độ nhận thức (Mức 1: nhận biết; Mức 2: hiểu; Mức 3: vận dụng; Mức 4: vận dụng phản hồi hợp lý).
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp các văn bản chỉ thị của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các giáo trình lý luận dạy học toán và tài liệu chuyên ngành về kiểm tra, tự đánh giá.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến đối với cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh; phương pháp quan sát các hoạt động dạy học trên lớp và ngoài giờ lên lớp; phương pháp đàm thoại trực tiếp với giáo viên và học sinh; phương pháp thực nghiệm sư phạm có đối chứng.
- Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các công thức thống kê để thu thập, phân loại, tính toán tỷ lệ phần trăm và xử lý số liệu điều tra thực trạng cũng như kết quả thực nghiệm sư phạm.
Nguồn dữ liệu của đề tài gồm dữ liệu sơ cấp thu thập từ 120 học sinh khối 5 và 25 giáo viên trực tiếp giảng dạy tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ), kết hợp với số liệu đánh giá định tính và định lượng trong đợt thực nghiệm sư phạm tại hai lớp 5A7 và 5A8.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập tự đánh giá kết quả học tập môn Toán cho học sinh lớp 5
Tác giả hệ thống hóa các đặc trưng bản chất của hoạt động tự đánh giá ở học sinh: tính độc lập, tính tất yếu, tính mục đích, mang dấu ấn cá nhân, mang tính xã hội và mang tính trí tuệ. Quy trình tự đánh giá của người học gồm 4 bước: (1) Xác định mục tiêu, nhiệm vụ học tập; (2) Thực hiện hoạt động học tập; (3) Đối chiếu kết quả học tập với mục tiêu, nhiệm vụ; (4) Ra quyết định và tự điều chỉnh. Đối với học sinh lớp 5, tri giác phân tích đã phát triển, trí nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ có chủ định chiếm ưu thế, tư duy cụ thể đang chuyển dần sang tư duy logic trừu tượng bước đầu.
Khóa luận xác lập 3 mức độ kỹ năng tự đánh giá kết quả học tập môn Toán của học sinh lớp 5:
- Mức độ 1 (Bắt chước tự đánh giá): Học sinh làm theo các thao tác mẫu do giáo viên hướng dẫn.
- Mức độ 2 (Biết tự đánh giá): Học sinh tự lập bảng hướng dẫn đánh giá theo mẫu hoặc tự đối chiếu bài làm dưới sự nhận xét, uốn nắn của giáo viên.
- Mức độ 3 (Độc lập tự đánh giá): Học sinh tự thiết lập khung đánh giá, tự kiểm tra và điều chỉnh mà không cần giáo viên hỗ trợ trực tiếp.
Kết quả khảo sát thực trạng tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng được tổng hợp cụ thể:
Thực trạng ở học sinh (khảo sát 120 học sinh lớp 5):
- Về việc tự học ở nhà: 74,2% (89/120 HS) tự học thường xuyên; 20,8% (25/120 HS) thỉnh thoảng; 5,0% (6/120 HS) chưa bao giờ tự học.
- Về mức độ tự đánh giá kết quả học tập:
| STT |
Mức độ tự đánh giá của học sinh |
Số lượng (HS) |
Tỉ lệ (%) |
| 1 |
Thường xuyên |
44/120 |
36,7% |
| 2 |
Thỉnh thoảng |
35/120 |
29,1% |
| 3 |
Chưa bao giờ |
41/120 |
34,2% |
Thực trạng ở đội ngũ giáo viên (khảo sát 25 giáo viên):
- Về nhận thức: 80% (20/25 GV) nhận thức đúng và đủ về tự đánh giá kết quả học tập; 20% (5/25 GV) hiểu đúng nhưng chưa đủ; 0% nhận thức chưa đúng.
- Về mức độ quan tâm: 64% (16/25 GV) thường xuyên quan tâm; 36% (9/25 GV) thỉnh thoảng quan tâm; 0% chưa quan tâm.
- Về các biện pháp giáo viên đang sử dụng để học sinh tự đánh giá:
| STT |
Biện pháp giáo viên sử dụng |
Số lượng (GV) |
Tỉ lệ (%) |
| 1 |
Giúp học sinh tự đánh giá qua việc trả lời câu hỏi trên lớp |
10/25 |
40,0% |
| 2 |
Giúp học sinh tự đánh giá qua các bài tập trên lớp |
7/25 |
28,0% |
| 3 |
Giúp học sinh tự đánh giá qua bài làm mẫu |
6/25 |
24,0% |
| 4 |
Giúp học sinh tự đánh giá qua hệ thống bài tập tự đánh giá |
2/25 |
8,0% |
- Về các khó khăn khi xây dựng hệ thống bài tập tự đánh giá:
| STT |
Khó khăn của giáo viên |
Số lượng (GV) |
Tỉ lệ (%) |
| 1 |
Chưa có quy trình thiết kế và biện pháp sử dụng hệ thống bài tập |
12/25 |
48,0% |
| 2 |
Chưa có nhiều tài liệu hướng dẫn hay lớp huấn luyện |
4/25 |
16,0% |
| 3 |
Mất nhiều thời gian và công sức chuẩn bị |
3/25 |
12,0% |
| 4 |
Khó sắp xếp về thời gian tổ chức |
3/25 |
12,0% |
| 5 |
Khả năng kết hợp giữa mục tiêu và hình thức hoạt động chưa cao |
3/25 |
12,0% |
Chương 2: Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập tự đánh giá kết quả học tập môn toán cho học sinh lớp 5
Tác giả đề xuất 5 nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập tự đánh giá: (1) Nguyên tắc đảm bảo chương trình, chuẩn kiến thức, kĩ năng; (2) Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu; (3) Nguyên tắc đảm bảo tính khoa học; (4) Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi; (5) Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn.
Quy trình xây dựng gồm 4 bước chuẩn hóa:
- Bước 1: Xác định mục tiêu kiến thức (dựa trên chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Toán 5).
- Bước 2: Thiết lập ma trận đặc trưng (bảng 2 chiều gồm mạch kiến thức và các mức độ nhận thức M1 đến M4, xác định số câu và số điểm tương ứng).
- Bước 3: Thiết kế câu hỏi theo ma trận đặc trưng (kết hợp trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, đúng - sai và tự luận).
- Bước 4: Thiết kế bảng hướng dẫn học sinh tự đánh giá kết quả học tập.
Khóa luận minh họa một đề kiểm tra tự đánh giá hoàn chỉnh gồm 11 câu hỏi (10 điểm) bao quát 3 mạch kiến thức chính: Số học (5 câu, 5 điểm), Đại lượng và đo đại lượng (3 câu, 2 điểm), Yếu tố hình học (3 câu, 3 điểm). Phân bổ theo mức độ nhận thức: Mức 1 có 5 câu, Mức 2 có 3 câu, Mức 3 có 2 câu, Mức 4 có 1 câu.
Điểm mấu chốt trong thiết kế của tác giả là cấu trúc "Bảng hướng dẫn học sinh tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập" gồm 3 cột:
- Cột "Câu": Số thứ tự câu hỏi.
- Cột "Mức độ, kĩ năng đạt được": Phân tích chi tiết từng phương án chọn. Nếu chọn đúng, xác nhận kỹ năng học sinh đã nắm vững; nếu chọn sai, chỉ rõ nguyên nhân nhầm lẫn (ví dụ: nhầm hàng phần mười sang hàng phần trăm, nhầm cách chuyển đổi giữa $m^3$ và $dm^3$, hoặc nhầm quy tắc tìm một số khi biết giá trị phần trăm).
- Cột "Kế hoạch của em": Đưa ra chỉ dẫn cụ thể để học sinh tự ôn tập lại quy tắc, công thức tính hoặc thao tác toán học tương ứng nhằm khắc phục lỗi sai ngay lập tức.
Phần biện pháp sử dụng nêu rõ quy trình giáo viên tổ chức cho học sinh làm quen, thực hành tự đánh giá trên lớp qua từng tiết học, hoạt động nhóm và tự học ở nhà dựa trên 3 mức độ kỹ năng đã xác định ở Chương 1.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Nội dung thực nghiệm được tiến hành nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của quy trình xây dựng hệ thống bài tập tự đánh giá môn Toán lớp 5. Tác giả chọn đối tượng thực nghiệm là học sinh khối 5 tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng (gồm lớp thực nghiệm và lớp đối chứng tương đương về trình độ học lực ban đầu qua lớp 5A7 và 5A8).
Quy trình thực nghiệm được triển khai thông qua các bài học cụ thể, sử dụng ma trận đề kiểm tra và bảng hướng dẫn tự đánh giá đã thiết kế. Tiêu chí đánh giá bao gồm:
- Phân tích định tính: Đánh giá thái độ học tập, mức độ hứng thú, khả năng tự giác nhận diện lỗi sai và sự tự tin của học sinh khi làm bài tập toán.
- Phân tích định lượng: Thu thập điểm số bài kiểm tra, lập bảng so sánh kết quả thực nghiệm và đối chứng (Bảng 3.1) và biểu đồ so sánh (Biểu đồ 3.1) để chứng minh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ học sinh đạt điểm khá, giỏi và mức độ làm chủ kỹ năng tự đánh giá giữa hai nhóm.
Kết quả và đóng góp
Văn bản ghi nhận những kết quả nghiên cứu cụ thể:
- Về mặt khảo sát: Chỉ ra mâu thuẫn lớn giữa nhận thức và thực hành tại trường tiểu học: 80% giáo viên nhận thức đúng và đủ, 64% thường xuyên quan tâm đến tự đánh giá, nhưng có tới 48% giáo viên chưa có quy trình thiết kế/biện pháp sử dụng và chỉ có 8% giáo viên thực sự áp dụng hệ thống bài tập tự đánh giá. Ở phía học sinh, tỷ lệ chưa bao giờ tự đánh giá bài làm chiếm tới 34,2%, gần tương đương với tỷ lệ học sinh thường xuyên tự đánh giá (36,7%).
- Về giải pháp sư phạm: Đề xuất thành công quy trình 4 bước thiết kế hệ thống bài tập tự đánh giá gắn liền với chuẩn kiến thức kỹ năng môn Toán 5. Sáng kiến cấu trúc "Bảng hướng dẫn học sinh tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập" không dừng lại ở việc cung cấp đáp án đúng/sai mà giải thích cặn kẽ bản chất lỗi tư duy và hướng dẫn học sinh lập "Kế hoạch của em" để tự bổ khuyết kiến thức.
- Đóng góp khoa học và thực tiễn tự nêu: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học trong môn Toán; cụ thể hóa quy trình kỹ thuật xây dựng công cụ tự đánh giá phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý học sinh cuối cấp tiểu học; cung cấp tài liệu tham khảo có thể áp dụng trực tiếp cho giáo viên giảng dạy khối lớp 5 và sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế căn cứ trên phạm vi nghiên cứu và văn bản trình bày:
- Phạm vi khảo sát và thực nghiệm mới chỉ thực hiện trên địa bàn một trường tiểu học (Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) với cỡ mẫu 120 học sinh và 25 giáo viên, chưa bao quát được các địa bàn vùng nông thôn hoặc miền núi.
- Nội dung hệ thống bài tập minh họa trong văn bản chủ yếu tập trung vào một số chủ đề kiến thức thuộc giai đoạn giữa và cuối lớp 5 (số thập phân, tỉ số phần trăm, diện tích hình thang, thể tích hình hộp chữ nhật, chuyển đổi đại lượng), chưa phủ kín toàn bộ chương trình môn Toán cả năm học.
Hướng nghiên cứu tiếp được mở ra:
- Mở rộng việc xây dựng hệ thống bài tập tự đánh giá cho toàn bộ các mạch kiến thức môn Toán lớp 5 và các khối lớp khác ở bậc tiểu học (lớp 1, 2, 3, 4).
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin để số hóa hệ thống bài tập và bảng hướng dẫn tự đánh giá thành các phần mềm, biểu mẫu trực tuyến giúp học sinh tự học và nhận phản hồi tự động.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm khi nghiên cứu học phần Phương pháp dạy học môn Toán hoặc làm khóa luận tốt nghiệp về kiểm tra, đánh giá theo định hướng năng lực.
- Giáo viên tiểu học đang trực tiếp giảng dạy khối lớp 5: Có thể tham khảo trực tiếp ma trận đặc trưng đề kiểm tra (Chương 2) và phương pháp xây dựng bảng hướng dẫn học sinh tự sửa sai, lập kế hoạch ôn tập.
- Cán bộ quản lý chuyên môn tại các trường tiểu học: Tham khảo khung 3 mức độ kỹ năng tự đánh giá để chỉ đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn và đa dạng hóa hình thức đánh giá thường xuyên theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận phân chia kỹ năng tự đánh giá của học sinh lớp 5 thành các mức độ nào?
Tác giả phân chia kỹ năng tự đánh giá môn Toán thành 3 mức độ: Mức độ 1 là bắt chước tự đánh giá (học sinh quan sát và làm theo thao tác mẫu của giáo viên); Mức độ 2 là biết tự đánh giá (học sinh tự thực hiện đối chiếu bài làm theo phiếu hướng dẫn dưới sự uốn nắn của giáo viên); Mức độ 3 là độc lập tự đánh giá (học sinh tự lập khung đánh giá, tự phát hiện lỗi và tự điều chỉnh mà không cần giáo viên trợ giúp).
2. Khó khăn lớn nhất mà giáo viên tiểu học gặp phải khi xây dựng bài tập tự đánh giá là gì?
Số liệu khảo sát 25 giáo viên tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng cho thấy khó khăn lớn nhất là "Chưa có quy trình thiết kế và biện pháp sử dụng hệ thống bài tập tự đánh giá kết quả học tập cho học sinh", chiếm tỷ lệ cao nhất với 48,0% (12/25 giáo viên).
3. Quy trình xây dựng hệ thống bài tập tự đánh giá môn Toán lớp 5 gồm mấy bước?
Quy trình gồm 4 bước: Bước 1: Xác định mục tiêu kiến thức; Bước 2: Thiết lập ma trận đặc trưng; Bước 3: Thiết kế câu hỏi theo ma trận đặc trưng; Bước 4: Thiết kế bảng hướng dẫn học sinh tự đánh giá kết quả học tập.
4. Cột "Kế hoạch của em" trong bảng hướng dẫn tự đánh giá có chức năng gì?
Cột này cung cấp chỉ dẫn sư phạm cụ thể cho từng câu hỏi khi học sinh chọn sai đáp án, nhắc lại công thức, định nghĩa hoặc quy tắc tính (ví dụ: cách đổi đơn vị thời gian, thể tích, quy tắc tìm số khi biết giá trị phần trăm), giúp học sinh tự biết mình phải đọc lại nội dung nào để khắc phục lỗ hổng kiến thức.
5. Thực trạng mức độ tự đánh giá của 120 học sinh lớp 5 được khảo sát ra sao?
Kết quả khảo sát cho thấy có 36,7% học sinh thường xuyên tự đánh giá kết quả học tập, 29,1% học sinh thỉnh thoảng tự đánh giá, và có tới 34,2% học sinh chưa bao giờ tự đánh giá bài làm của bản thân.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và khảo sát toàn diện thực trạng tự đánh giá trong môn Toán lớp 5 tại Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng, Phú Thọ. Nghiên cứu đề xuất quy trình 4 bước xây dựng hệ thống bài tập kèm bảng hướng dẫn tự kiểm tra có cơ chế phản hồi lỗi sai và định hướng kế hoạch tự học cho học sinh. Các kết quả thực nghiệm sư phạm bước đầu khẳng định tính khả thi của mô hình trong việc nâng cao tính tự giác, phát triển năng lực tự đánh giá và cải thiện kết quả học tập môn Toán của học sinh cuối cấp tiểu học.