CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN MỚI CẤP HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về xây dựng và phát triển nông thôn mới cấp huyện 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái Niệm về nông thôn Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại thông tư số: 54/2009/TT - BNNPTNT thì nông thôn được khái niệm: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã.
Nông thôn là một khái niệm chỉ vùng (khu vực) hành chính bên ngoài thành thị, đối lập với nó là thành phố, thị xã; là khu vực lãnh thổ rộng lớn ngoài thành phố. Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác. Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn.
Theo các tài liệu nghiên cứu, “làng” là từ nôm, là tiếng nói dân dã, ngôn ngữ đời sống trong dân gian ăn sâu vào trong tâm lý, ý thức của người Việt. Nó gợi ra môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền - không gian sinh tồn; đồng thời là không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt. Nông thôn có đặc điểm cơ bản khác với thành thị trên các mặt chủ yếu sau: - Cư dân nông thôn chủ yếu là nông dân và làm nghề nông. Đây là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp.
Trong các làng xã c 5 truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là nguồn sinh kế chính của đại bộ phận nông dân. Cùng với sự phát triển và tiến bộ của đất nước, đặc điểm này có sự thay đổi. Các vùng nông thôn trong tương lai sẽ không phải chủ yếu có các nông dân sinh sống và làm nông nghiệp, thay vào đó là các cư dân cư trú và tiến hành nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, gồm cả sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ. Theo đó, tỷ trọng lao động và GDP của các ngành kinh tế ở nông thôn cũng thay đổi theo hướng gia tăng cho công nghiệp và dịch vụ.
- Nông thôn thể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, các vùng nông thôn quản lý một lượng tài nguyên thiên nhiên to lớn, phong phú và đa dạng, bao gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng, sông suối, ao hồ, khoáng sản, hệ động thực vật gồm tự nhiên và do con người tạo ra. - Dân cư nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình. Ở nông thôn, có nhiều gia đình trong một dòng họ cùng sinh sống và gắn bó với nhau gần gũi, khăng khít lâu đời. Những người ngoài dòng họ cùng chung sống, góp sức phòng tránh thiên tai, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống tạo nên tình làng nghĩa xóm lâu bền.
- Nông thôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hoá của quốc gia như các phong tục, tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hoá, các danh lam thắng cảnh. Đây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hoá dân tộc, đồng thời là khu vực giải trí, du lịch sinh thái phong phú và hấp dẫn đối với mọi người. Khái niệm về nông thôn mới Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ, và cũng không phải nông thôn truyền thống. Nếu so với nông thôn truyền thống, thì nông thôn mới phải bao hàm cơ cấu và chức năng mới.
c 6 Ngày 16 tháng 4 năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí (sẽ giới thiệu cụ thể ở mục 1. Ngày 21 tháng 8 năm 2009 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn có Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Từ Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, ta thấy nông thôn mới là nông thôn toàn diện bao gồm tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái và phải phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của từng vùng. Theo tinh thần của quyết định trên nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng KT-XH hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững.
Khái niệm về xây dựng và phát triển nông thôn mới Xây dựng nông thôn mới phải đạt những nội dung cơ bản sau: làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ. Thực tế hiện nay trong quá trình chỉ đạo xã điểm triển khai XDNTM ở nước ta đang gặp phải 3 khó khăn lớn: Đầu tiên là tăng nhanh, bền vững thu nhập cho nông dân, mục tiêu đến 2020 thu nhập tăng gấp 2,5 lần hiện nay. Khó khăn tiếp theo là xây dựng hạ tầng nông thôn hiện đại, trong điều kiện thực tế hạ tầng nông thôn quá lạc hậu. Cuối cùng vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn, sao cho đến năm 2020 lao động nông nghiệp chiếm 30% lao động của xã hội (hiện nay gần 60%).
Những vấn đề chủ yếu về xây dựng nông thôn mới a) Trước hết cần làm rõ vì sao phải xây dựng nông thôn mới Ngay sau khi nước ta thành lập năm 1945, mặc dù vẫn tập trung chỉ đạo cho công cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm tới xây dựng và phát triển nông thôn, Người nêu rõ vai trò, vị trí và tầm quan trọng của nông thôn: “Nông thôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hoá của công nghiệp sản xuất ra, đồng thời sẽ cung cấp đầy dủ lương thực, nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị. Như thế là nông thôn giàu có giúp cho công nghiệp phát triển, công nghiệp phát triển lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa” [8,Tr60]. Bác coi phát triển nông nghiệp là nhân tố đầu tiên, là cội nguồn của mọi vấn đề kinh tế - xã hội. Bác Hồ luôn coi nông dân là lực lượng to lớn của cách mạng, xây dựng khối liên minh công nông do Đảng lãnh đạo để đoàn kết dân tộc, là cơ sở, là chỗ dựa quan trọng chiến tranh bảo vệ, giải phóng và xây dựng đất nước.
Thực tiễn trong bảo vệ, xây dựng đất nước, trong phát triển kinh tế ở nước ta đến nay cho thấy, cùng với chính sách đổi mới, mở cửa đã minh chứng điều nhận định trên. Nền nông nghiệp nước ta không những đảm bảo lương thực đủ ăn cho 90 triệu người dân nước ta mà còn xuất khẩu một lượng lớn hàng nông sản. Qua nhiều kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng, vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn được quan tâm đặc biệt. Xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu phát triển của đất nước, nhận thức của Đảng và Nhà nước ngày càng được nâng cao, càng được quan tâm tới phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tổng thể phát triển chung của đất nước.
Hiện nay lực lượng nông dân vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong dân số, là lực lượng quan trọng của cách mạng, mà chính nông nghiệp, nông dân nước ta luôn khẳng định vai trò đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của nước ta. Nông nghiệp mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực tăng c 8 trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Cho đến nay sản phẩm nông nghiệp vẫn là những sản phẩm chủ yếu để đi vào sự hội nhập kinh tế quốc tế và sự hội nhập toàn cầu của nước ta. Đến Hội nghị Trung ương 7 khóa X của Đảng đã thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TW khẳng định rõ nét về nông nghiệp - nông dân - nông thôn (NN- ND-NT) với các nội dung cơ bản: - Vị trí chiến lược của NN-ND-NT trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH) xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Vấn đề NN- ND- NT phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh CNH- HĐH. Công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là nhiệm vụ hàng đầu của quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Trong mối quan hệ NN- ND- NT, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt. - Phát triển nông nghiệp - nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng, biển; khai thác tốt điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp - nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp - nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân.
- Giải quyết vấn đề NN-ND-NT là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trước hết phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực, tự cường vươn lên của nông dân.