Phần mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan về Ngân hàng xanh và Hệ tiêu chí đánh giá hoạt động Ngân hàng xanh. Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động Ngân hàng xanh tại Việt Nam. Chƣơng 3: Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá hoạt động Ngân hàng xanh tại Việt Nam. 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG XANH VÀ HỆ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG XANH 1.
Tổng quan về Ngân hàng xanh 1. Khái niệm Khái niệm Ngân hàng xanh được phát triển đầu tiên ở các nước phương Tây vào năm 2003 nhằm mục đích bảo vệ môi trường. Theo Lalon (2015), Ngân hàng xanh là bất kì hình thức hoạt động ngân hàng nào đem lại lợi ích về mặt môi trường cho đất nước và dân tộc. Khái niệm Ngân hàng xanh có thể được hiểu theo hai khía cạnh: (i) Ngân hàng thực hiện các hoạt động trực tiếp nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường như sử dụng tiết kiệm năng lượng, nước, xử lý rác thải… (ii) Ngân hàng tác động gián tiếp đến môi trường thông qua việc tăng cường hỗ trợ các dự án thân thiện với môi trường như: Nhà máy sử dụng khí đốt từ chất thải, nhà máy cung cấp năng lượng tái tạo và năng lượng mặt trời, nhà máy chế tạo phân sinh học… Tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, Ngân hàng xanh là một khái niệm mới được biết đến trong những năm gần đây.
Nhìn chung, phạm vi Ngân hàng xanh khá rộng bao hàm nhiều vấn đề như hoạt động ngân hàng bền vững, hoạt động ngân hàng có đạo đức, thế chấp xanh, tín dụng xanh, tài chính xanh, tài khoản, thẻ ngân hàng, ngân hàng điện tử. Ngân hàng xanh còn được hiểu theo nghĩa rộng là ngân hàng bền vững khi bao hàm yếu tố liên quan đến môi trường (Imeson M., 2010), ngân hàng bền vững liên quan đến nhiều vấn đề như trách nhiệm cộng đồng, trách nghiệm doanh nghiệp, quyền công dân, quản lý môi trường, xã hội và nhiều biến thể khác. Ngân hàng xanh không giới hạn phạm vi chỉ ở các hoạt động xanh của các chi nhánh mà mở rộng nhằm tạo thuận lợi phát triển tài chính, đầu tư xanh. Giữa ngân hàng và các yếu tố kinh tế, môi trường, xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Ngân hàng chỉ có thể phát triển bền vững khi đặt lợi ích ngân hàng gắn liền với các lợi ích xã hội và môi trường. Mô hình vòng quay Hình 1.1 cho thấy cách hệ thống ngân hàng hoạt động như một chuỗi dây chuyền (Ullah 2013) 8 Hình 1.1 Mô hình mối liên hệ khép kín trong Ngân hàng xanh Ngân hàng Khách hàng Môi trường Nguồn: Ullah (2013) Đơn giản hơn, có thể hiểu “Ngân hàng xanh” cho thấy các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng khuyến khích các hoạt động vì môi trường và giảm phát thải cacbon, ví dụ như khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm, dịch vụ xanh; áp dụng tiêu chuẩn môi trường khi duyệt vốn vay hay cấp tín dụng ưu đãi cho dự án giảm CO2, năng lượng tái tạo,. Bên cạnh đó, còn bao gồm từ việc tiết kiệm giấy sử dụng của ngân hàng và khách hàng, áp dụng ngân hàng trực tuyến (online bankings), giảm số lượng các chi nhánh, văn phòng… (Kaeufer 2010) Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB), tài chính xanh là việc thành lập, phân phối và sử dụng các quỹ nhằm mục đích tài trợ cho các hoạt động bảo vệ môi trường, ngăn biến đổi khí hậu, hướng tới phát triển kinh tế - xã hội bền vững, không phải trả giá bởi môi trường ô nhiễm. Ngoài ra, Tài chính xanh là các sản phẩm và dịch vụ tài chính có sự xem xét các yếu tố môi trường trong suốt quá trình thẩm định cho vay, hậu giám sát và quản lý rủi ro, nhằm thúc đẩy các công nghệ, dự án, công nghiệp và kinh doanh có trách nhiệm với môi trường và công nghệ carbon thấp (Pricewaterhouse Coopers Consultants – PWC, 2013).
Tài chính xanh bao gồm tất cả các dạng đầu tư hay cho vay có tính tới tác động môi trường và nâng cao tính bền vững môi trường. Nhìn chung, Ngân hàng xanh được hiểu là ngân hàng bền vững, đặt lợi ích của ngân hàng gắn liền với lợi ích của môi trường, xã hội. Ngân hàng xanh hoạt động như một ngân hàng truyền thống, trong đó cung cấp các sản phẩm - dịch vụ vượt trội cho khách hàng và triển khai các chương trình giúp ích môi trường, cộng đồng. Tín dụng Ngân hàng xanh là những khoản cấp tín dụng mà ngân hàng cấp cho các dự án 9 không gây rủi ro hoặc nhằm bảo vệ môi trường Tuy nhiên, các khái niệm trên có thể được vận dụng ở các mô hình khác nhau, trong các điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau của mỗi quốc gia nhằm thiết lập các cấp độ mô hình Ngân hàng xanh phù hợp để đánh giá mức độ tác động của Ngân hàng xanh đến nền kinh tế.
Mô hình Ngân hàng xanh Trong một nghiên cứu về các mô hình Ngân hàng xanh và trách nhiệm xã hội, Kaeufer (2010) đã đưa ra mô hình Ngân hàng xanh 5 cấp độ, cụ thể là: Cấp độ 1: Những hoạt động ngân hàng phụ Ở cấp độ này, ngân hàng thường thực hiện tài trợ cho các sự kiện “xanh” và tham gia các hoạt động công cộng mà không liên quan đến hoạt động cốt lõi của các ngân hàng (hầu hết các ngân hàng đều đang ở cấp độ xanh này trong một khoảng thời gian dài). Cấp độ 2: Tách bạch phát triển dự án và hoạt động kinh doanh Theo đó, ngân hàng phát triển thêm các sản phẩm và dịch vụ xanh riêng biệt (chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ) bổ sung vào danh mục các sản phẩm ngân hàng truyền thống. Cấp độ 3: Hoạt động kinh doanh có hệ thống Trong đó, hầu hết các quy trình, sản phẩm của ngân hàng đều tuân thủ nguyên tắc “xanh”, việc tập trung và tác động tích cực của cơ cấu tổ chức của ngân hàng được thiết kế để hỗ trợ tác động “xanh” ở trên 4 giác độ: con người, quy trình, nguyên tắc và mục đích. Cấp độ 4: Sáng kiến cân bằng hệ sinh thái tầm chiến lược Hoạt động Ngân hàng xanh không chỉ giới hạn ở phạm vi các nghiệp vụ đơn lẻ mà được mở rộng thành mạng lưới, liên minh, đối thoại cộng đồng, hay toàn hệ sinh thái nhằm đạt được tính bền vững của các yếu tố xã hội – môi trường và tài chính.
Cấp độ 5: Sáng kiến cân bằng hệ sinh thái chủ động Các hoạt động Ngân hàng xanh tương tự như cấp độ 4 song được thực hiện một cách chủ động, có mục đích, chứ không phải là hoạt động ứng phó sự thay đổi bên ngoài như sáng kiến tầm chiến lược ở cấp độ 4. 10 Theo Lalon (2015), khung chiến lược và chính sách triển khai Ngân hàng xanh sẽ từng bước được nâng cấp theo 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Các ngân hàng thương mại (NHTM) dự kiến nguồn ngân sách phân bổ hàng năm cho việc triển khai Ngân hàng xanh và thành lập bộ phận chuyên trách lập kế hoạch, đánh giá và quản lý các vấn đề liên quan đến Ngân hàng xanh. Ngoài ra, các ngân hàng cần đánh giá rủi ro về môi trường trong quá trình cấp tín dụng và tiến hành các hoạt động khác như: Marketing xanh, thành lập quỹ rủi ro khí hậu, lập báo cáo về hoạt động Ngân hàng xanh. Giai đoạn 2: Ngân hàng xây dựng chiến lược tài trợ cụ thể cho từng lĩnh vực nhạy cảm với môi trường (Nông nghiệp, ngành kinh doanh các sản phẩm nông nghiệp, thuộc da, đánh bắt cá, hàng may mặc, năng lượng tái tạo, bột giấy và giấy, đường và nhà máy rượu, xây dựng công trình, chế tạo máy và kim loại cơ bản, hóa chất, cao su và chất dẻo, bệnh viện, mua bán hóa chất…).
Đối với hoạt động nội bộ, Ngân hàng xanh có thể đặt mục tiêu cụ thể trong việc sử dụng hiệu quả năng lượng, giảm thiểu tiêu thụ khí gas, giảm phát thải khí nhà kính; tăng cường trả lương điện tử, phát hành thông báo điện tử. Ngoài ra, ngân hàng cần triển khai chương trình đào tạo về các hoạt động sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng cho các khách hàng. Giai đoạn 3: Các ngân hàng phải lập hệ thống quản lý môi trường trong nội bộ để tiếp tục triển khai 2 hoạt động: Thiết kế và giới thiệu sản phẩm xanh và thân thiện với môi trường; Lập báo cáo theo tiêu chuẩn xanh có xác minh của cơ quan bên ngoài. Đặc điểm Ngân hàng xanh Thứ nhất, triển khai các dịch vụ điện tử và tự động hóa.
Thông qua việc áp dụng nền tảng công nghệ hiện đại, các ngân hàng triển khai dịch vụ điện tử với đầy đủ các loại hình dịch vụ cơ bản như gửi tiền, rút tiền, đổi ngoại tệ, truy vấn, giao dịch trực tuyến, nộp thuế và dịch vụ khách hàng… giúp khách hàng linh hoạt và chủ động hơn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, xóa bỏ hạn chế về thời gian. Đồng thời phối hợp với các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước hình thành hệ thống giao dịch tự động, tích hợp nhiều dịch vụ, tạo sự thuận tiện cho khách hàng. Thứ hai, ưu tiên cho vay hoặc đầu tư vào dự án có đánh giá các rủi ro liên quan đến môi trường. Các ngân hàng quan tâm đến tín dụng xanh là những khoản cấp tín 11 dụng mà ngân hàng cấp cho các dự án ít gây rủi ro đối với môi trường hoặc nhằm bảo vệ môi trường.
Các ngân hàng tuân thủ quy định về pháp luật môi trường, thực thi công cụ đánh giá tác động môi trường và xã hội để triển khai việc đánh giá, thẩm định dự án trước khi cho vay, hướng tới tăng trưởng bền vững và phát triển xanh, khuyến khích doanh nghiệp bảo vệ môi trường, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội. Thứ ba, giám sát, hướng dẫn các dự án của khách hàng để giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Các ngân hàng tăng cường hoạt động ngân hàng xanh trong việc ban hành tiêu chuẩn báo cáo chung, có các biện pháp quản lý đối với dự án. Tác động và ảnh hưởng của dự án đến môi trường, xã hội càng cao thì biện pháp quản lý, giám sát càng chặt chẽ và yêu cầu khách hàng phải có biện pháp xử lý, khắc phục các vấn đề ảnh hưởng đến môi trường - xã hội.
Thứ tư, thay đổi năng lực đánh giá của cán bộ ngân hàng và khách hàng về các hoạt động thân thiện với môi trường.