CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYẾN DỤNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1.1, Nghiên cứu cua Filip Lievens và Scott Highhouse (2003) Lievens và Highhouse đã tiến hành nghiên cứu “The Relation of Instrumental and Symbolic Attributes to a Company's Attractiveness as an Employer” (Mối quan hệ của các thuộc tinh công cụ va biểu tượng với sự hấp dẫn của một công ty với tư cách là một nhà tuyên dụng) dé khám phá các tính chất và nhân tố của công việc hoặc tô chức có tác động như thế nào đến cảm nhận của các nhân viên tương lai đối với tính hap dẫn của doanh nghiệp ở khía cạnh là người tuyển dụng. Từ mô hình thuộc tính công dụng (instrumental attributes) và thuộc tính biểu tượng (symbolic attributes) trong lý thuyết marketing, mỗi sản phẩm có cả ý nghĩa chức năng và ý nghĩa biéu tượng.
Ý nghĩa chức năng hay công dụng của một sản phẩm thì tương ứng với giá trị vật ly hay hữu hình của nó. Mặt khác, ý nghĩa biểu tượng của một sản phẩm thì được gắn với các thuộc tính vô hình hay mang tính hình tượng của nó, giúp làm đẹp thêm hình ảnh cho chính người sử dụng và duy trì các đặc điểm nhận dạng chính họ. Nói đến hình ảnh thương hiệu nhà tuyển dụng, Lievens va Highhouse (2003) đã cho rằng mô hình thuộc tính công dung — biểu tượng (instrumental-symbolic framework) có một tầm quan trọng đáng kê đến việc thu hút người tìm việc đến với công ty. Các ứng viên tiềm năng bị thu hút bởi một tô chức với tư cách là người sử dụng lao động không chỉ trên cơ sở công việc cụ thé và các thuộc tính của tổ chức (vi dụ: lương, vi tri, tính đa dạng của nhiệm vụ) ma còn trên cơ sở các thuộc tính tượng trưng (ví dụ: tổ chức được coi là sáng tạo và uy tín).
Nghiên cứu của Lievens và Highhouse (2003) và các nghiên cứu sau đều đi đến các kết luận giống nhau: (1) thuộc tính công dụng và biểu tượng có tác động tích cực đến sự hấp dẫn của nhà tuyển dụng, và (2) nhưng thuộc tính biểu tượng có tác động đến sự hấp dẫn của nhà tuyển dụng mạnh hơn so với thuộc tính công dụng. Nghiên cứu cua Filip Lievens, Greet Van Hoye và cộng sự (2005) Nghiên cứu “Examining the relationship between employer knowledge dimensions and organizational attractiveness: An application in a military context” (Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các khía cạnh kiến thức của nhà tuyển dụng va sự hap dẫn t6 chức: Ứng dung trong quân sự) do Filip Lievens, Greet Van Hoye và cộng sự thực hiện năm 2005 đã sử dụng khung kiến thức sử dụng lao động của Cable và Turban (2001) như một mô hình khái niệm dé hình thành các giả thuyết về một loạt các yếu tố có thé ảnh hưởng đến sự hap dẫn của một tổ chức (nghiên cứu trong trường hợp quân đội) đối với các ứng viên tiềm năng. Kết quả cho thấy giới tính, mức độ quen thuộc với tổ chức, nhận thức về công việc và các thuộc tính của tô chức (sự đa dạng của nhiệm vụ và các hoạt động xã hội/nhóm), và suy luận về đặc điểm (sự phan khích, uy tin va sự vui vẻ) là những yếu tố tạo nên sự hấp dan của các tô chức quân sự đối với các ứng viên tiềm năng. Nghiên cứu của Simon Knox và Cheryl Freeman (2006) Nghiên cứu của Simon Knox và Cheryl Freeman (2006) về đo lường và quản trị hình ảnh thương hiệu nhà tuyển dụng trong ngành công nghiệp dịch vụ đã sử dụng mô hình hấp dẫn (actractiveness model) của Vroom để đo lường hình ảnh thương hiệu nhà tuyển dụng dựa trên 20 yếu tố có ảnh hưởng quan trọng nhất đối với cảm nhận của ứng viên VỀ Sự hấp dẫn của tô chức, đó là: 1) Cho phép tự do làm việc với các sáng kiến riêng 2) _ Có những nhân viên mà bạn nghĩ là có những điểm chung với bạn 3) Có một cách tiếp cận năng động, hướng về tương lai đối với hoạt động 4) kinh doanh 5) Có một văn hóa thân thiện, cởi mở 6) Trong những năm đầu, cung cấp các cơ hội luân chuyền công việc trong nội bộ tổ chức và làm việc với nhiều vai trò khác nhau 7) Đầu tư mạnh mẽ vào hoạt động đào tạo và phát triển nhân viên 8) Có chế độ giữ chân nhân tài 9) Là một tổ chức nhỏ 10) Được biết đến rộng rãi như là một nhà tuyên dụng có danh tiếng cao 11) Cung cấp môi trường dé sáng tạo trong công việc của bạn 12) Cung cấp một môi trường làm việc tương đối ít áp lực (a relative stressfree working environment) 13) Cung cấp một mức lương khởi điểm rất cao 14) Cung cấp những cơ hội thăng tiến rõ ràng cho con đường sự nghiệp dài hạn 15) Cung cấp cơ hội dé du lịch thé giới 16) Cung cấp cơ hội dé làm việc và sống ở nước ngoài 17) Cung cấp các budi giải trí ở công việc (offers variety in daily work) 18) Có những đồng nghiệp quốc tế đa dạng từ nhiều quốc gia 19) Thật sự quan tâm đến nhân viên như là những cá nhân 20) Chỉ yêu cầu làm việc trong giờ hành chính 21) Sử dụng trình độ, kỹ năng của bạn Cũng giống như các nghiên cứu trước đây, hai tác giả này đã kết luận rằng tính hấp dẫn của hình ảnh thương hiệu nhà tuyên dụng có tác động tích cực đến ý định nộp đơn của ứng viên.
Ngoài ra, kết quả của nghiên cứu cũng xác nhận rằng hình ảnh thương hiệu nhà tuyển dụng có sự tương quan tích cực đến ý định dự tuyển của ứng viên. Đồng thời, nhận thức về thương hiệu nhà tuyển dụng của các đối tượng bên trong và bên ngoài công ty có sự khác biệt nhau đáng kẻ. Nghiên cứu cua Greet Van Hoye và Alan M. Saks (2010) Greet Van Hoye va Alan M.
Saks đã thực hiện nghiên cứu “Mô hình công dụng - biểu tượng: Hình ảnh tô chức và sức hấp dẫn đối với các ứng viên tiềm năng và bạn đồng hành của họ tại hội chợ việc làm” (The Instrumental - Symbolic Framework: Organisational Image and Attractiveness of Potential Applicants and their Companions at a Job Fair) vào năm 2010. Tại nghiên cứu này, mô hình công dụng - biểu tượng (instrumental - symbolic framework) được áp dụng như một mô hình đo lường để khái niệm hóa các khía cạnh chính của hình ảnh của một tổ chức với tư cách là một nhà tuyển dụng. Nghiên cứu này điều tra nhận thức về hình ảnh và sức hap dẫn của tổ chức trong số 200 ứng viên tiềm năng cho Bộ Quốc phòng Bi và người đồng hành với ho đến hội chợ việc làm, ví đụ như bạn bè, cha mẹ. Kết quả chỉ ra rằng các thuộc tính công dụng dự đoán sức hấp dẫn của tổ chức đối với cả ứng viên tiềm năng và bạn đồng hành của họ.
Hơn nữa, phù hợp với khuôn khổ mô hình công dụng - biểu tượng, các thuộc tính biểu tượng giải thích sự khác biệt gia tăng trong nhận thức về sức hấp dan của tổ chức đối với các ứng viên tiềm năng cũng như của những người bạn đồng hành. Nhìn chung, thuộc tính công dụng và biểu tượng dự đoán sức hấp dẫn của tô chức mạnh mẽ hơn đối với các ứng viên tiềm năng so với những người bạn đồng hành của họ và các ứng viên tiềm năng có cái nhìn tích cực hơn về tổ chức. Nghiên cứu cua Greet Van Hoye, Turker Bas và cộng sự (2013) Greet Van Hoye, Turker Bas va nhóm cộng sự, bao gom cả tac gia của những nghiên cứu đầu tiên về mô hình công dung - biểu tượng là Filip Lievens đã thực hiện nghiên cứu “Thuộc tính công dụng - biểu tượng của tô chức với tư cách là nhà tuyên dụng: Nghiên cứu thực địa quy mô lớn về hình ảnh thương hiệu nhà tuyển dụng tại Thổ Nhĩ Kỳ” (The Instrumental and Symbolic Dimensions of Organisations’ Image as an Employer: A Large-Scale Field Study on Employer Branding in Turkey) vao nam 2013. Tại nghiên cứu nay, mô hình công dung - biểu tượng được sử dung như một mô hình đo lường dé phản ánh nội dung của thương hiệu nhà tuyển dụng.
Trước đó, nghiên cứu về tuyển dung và thương hiệu nhà tuyên dụng thường được thực hiện ở các nước phương Tây, nơi đề cao nền văn hóa chủ nghĩa cá nhân. Nghiên cứu này điều tra mô hình công dụng - biéu tượng đề nghiên cứu hình ảnh và sức hap dẫn của tổ chức với tư cách là người sử dụng lao động trong một môi trường văn hóa tập thê phi phương Tây. Trong một mẫu lớn trên toàn quốc gồm các sinh viên đại học Thổ Nhĩ Kỳ, cả thuộc tính công dụng (điều kiện làm việc) và thuộc tính biểu tượng (năng lực) đều có liên quan tích cực đến sức hấp dẫn của tổ chức. Hơn nữa, các thuộc tính biểu tượng đã giải thích phương sai gia tăng đáng ké ngoài các thuộc tinh công dụng và chiếm một lượng lớn hơn phương sai có thé dự đoán được.
Ngoài ra, các tô chức được phân biệt với nhau tôt hơn trên cơ sở các khía cạnh thuộc tính biêu tượng so với cơ sở các khía cạnh thuộc tính công dụng. Nhìn chung, những phát hiện này hỗ trợ cho khả năng áp dụng mô hình công dụng - biểu tượng ở các quốc gia, nên văn hóa và tô chức khác nhau. Tình hình nghiên cứu trong nước 1. Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Nhã (2013) Cũng dựa trên mô hình thuộc tính công dụng - biểu tượng của Lievens và Highhouse (2003), luận văn “Xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng cho Công ty TNHH Trí Việt” của tác giả Nguyễn Thanh Nhã, Đại học Mở Hà Nội đã khăng định nội dung của thương hiệu nhà tuyển dụng bao gồm 02 thành phan chính là các thuộc tính công dụng và các thuộc tính biểu tượng.
Các thuộc tính công dụng (instrumental attributes) 1) Cung cấp các phúc lợi tài chính cạnh tranh (lương, hoa hồng, khen thưởng, quyền mua cô phiếu) 2) Cung cấp các phúc lợi phi tai chính cạnh tranh (bảo hiểm, chăm sóc y tế .