CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÂY DỰNG TẬP THỂ SƯ PHẠM THEO HƯỚNG TỔ CHỨC HỌC TẬP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Khi đề cập đến công tác xây dựng TTSP, trên thế giới đã có nhiều nhà giáo dục học, tâm lý học với nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu, có giá trị. Mác đã khẳng định rằng: “Chỉ trong tập thể, mỗi cá nhân mới có được phương tiện giúp cho cá nhân đó có khả năng phát triển toàn diện những tư chất của mình, và khi đó, chỉ trong tập thể mới có tự do cá nhân”, “Nhờ đó, mỗi người sẽ là một nhân cách độc đáo, sáng tạo, phong phú và cũng nhờ đó tập thể trở nên phong phú,đa dạng” [6].
Để nói về vai trò của TTSP, nhà giáo dục A. Macarenco đã viết: “Một nền giáo dục đúng đắn được tổ chức bằng phương thức là tạo được tập thể thống nhất, mạnh mẽ, có nhiều ảnh hưởng” [20]. Ông đồng thời cũng nhấn mạnh vị trí trung tâm của người hiệu trưởng trong TTSP. Tập thể là một tổ chức xã hội đặc biệt, có trình độ cao, có khả năng phát triển những cá nhân thông qua việc cung cấp cho cá nhân những điều kiện và phương tiện thuận lợi nhất để phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách của mình.
Tập thể mang lại cho cá nhân những kiểu quan hệ xã hội đa dạng, làm cho đời sống tinh thần của con người phong phú hơn, làm cơ sở nền tảng cho đạo đức xã hội. Tập thể chính là môi trường với đầy đủ các điều kiện thuận lợi để mỗi thành viên tự phát triển tư chất của mình, tạo những thuộc tính vốn có của hệ thống xã hội mà ở đó tập thể giữ vai trò là bộ phận. Ngược lại, nhờ cá nhân mà tập thể trở nên phong phú, đa dạng. Khi các thành viên phát triển được nhân cách của mình thì sẽ làm cho tập thể phát triển đến trình độ cao hơn, một mặt góp phần tạo ra sức mạnh lớn hơn, đa dạng và toàn diện hơn cho xã hội, mặt khác sẽ có tác động trở lại và ghi dấu ấn lên nhân cách của từng thành viên trong tập thể.
Nhà sử học Daniel A. Wren đã nhận xét rằng: “Quản lý cũng xưa cũ như chính con người vậy”, nhưng ông cũng ghi nhận rằng cũng chỉ mới gần đây, người ta mới chú ý đến “ chất khoa học” của quá trình quản lý và dần dần hình thành nên các “lý thuyết” quản lý [5]. Theo quan điểm truyền thống, Frederich Winslow Taylor (1856-1915) và các cộng sự của ông tin rằng động cơ thúc đẩy người công nhân làm việc tích cực chỉ là do họ muốn kiếm được nhiều tiền nhằm thoả mãn những nhu cầu về vật chất, kinh tế. 6 Trong các quan điểm truyền thống còn có Thuyết quản lý hành chính của Henri Fayol (1841 - 1925) với 14 nguyên tắc quản lí hành chính đã có những đóng góp to lớn vào sự phát triển lí luận quản lý.
Thuyết quản lý bàn giấy của Max Weber (1864- 1920) là một hệ thống dựa trên các quy tắc, luật lệ, các thứ bậc, sự phân công lao động rõ ràng và các thủ tục khắt khe, chặt chẽ. Nhìn chung các quan điểm truyền thống thường tập trung vào người bị quản lý, vai trò người quản lý và toàn bộ tổ chức, ít tính đến sự chủ động của nhân viên, chưa chú ý đến nhu cầu xã hội, điều kiện (môi trường) làm việc và sự hài lòng về công việc của nhân viên [5]. Các nghiên cứu ở trong nước Tại Việt Nam, tập thể cũng được nhiều nhà tâm lý học, nhà giáo dục học quan tâm dến việc nghiên cứu về nhóm. Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt đã đề cập khá sâu sắc về vai trò của tập thể: “Tập thể chân chính tuyệt nhiên không chèn ép, không xóa bỏ cá nhân mà phát triển cá nhân.
Trong tập thể, mỗi cá nhân sẽ tìm được những phương tiện và điều kiện để phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách của mình…. Sự phát triển của tập thể và sự phát triển của cá nhân là hai quá trình quy định lẫn nhau “[19]. Tại các trường học, vài trò của tập thể có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó gắn liền với mục tiêu giáo dục. Chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường được nâng cao gắn liền với một TTSP tích cực, có tâm trong công tác giáo dục học sinh, làm cho nhà trường không ngừng phát triển.
Giáo dục cần đúng đắn và hiệu quả chỉ có thể được thực hiện với một TTSP nhất trí về quan điểm và tin tưởng, giúp đỡ lẫn nhau. Trình độ phát triển của TTSP ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả công tác giáo dục, tạo một môi trường làm việc tích cực cho các thành viên trong nhà trường. Chính vì vậy, một TTSP phát triển, hay TTSP tích cực vừa là mục tiêu, vừa là công cụ của công tác giáo dục, công tác quản lý nhà trường Tại Việt Nam, TCHT là một thuật ngữ còn khá mới mẽ và xuất hiện nhiều trong thời gian gần đây. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề TCHT như: Nguyễn Thị Hoàng Anh đã vận dụng lý thuyết “Tổ chức biết học hỏi vào quản lý sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ”[2]; Lê Thị Mỹ Trí đã thực nghiên cứu “Biện pháp xây dựng Trường Cao đẳng Bách Khoa Đà Nẵng thành tổ chức biết học hỏi”[28].
Bùi Quang Vinh đã thực hiện nghiên cứu “Xây dựng TTSP trường THPT trên địa bàn huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai theo hướng TCBHH”[30]. Hầu hết các tài liệu, công trình nghiên cứu đã đề cấp đến vai trò, nhiệm vụ, phương pháp và những yêu cầu đối với TCHT. Tuy nhiên, nghiên cứu về lý luận một cách có hệ thống việc quản lý xây dựng TTSP trong trường phổ thông có nhiều cấp 7 học theo hướng TCHT lại quá ít. Việc xây dựng TTSP được xem là một nội dung cơ bản, quyết định sự phát triển của các nền giáo dục hiện nay.
Các nghiên cứu trong và ngoài nước đều khẳng định rằng TTSP có vai trò đặc biệt quan trọng với sự phát triển của từng cá nhân cũng như thành tích chung của cả tổ chức, nhà trường. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý giáo dục 1. Quản lý Quản lý (QL) là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người xét trên nhiều phạm vi cá nhân, tập đoàn, quốc gia hoặc nhóm quốc gia.
Hoạt động QL xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm. Qua lao động, để duy trì sự sống, đòi hỏi sự phối hợp hoạt động giữa các cá nhân con người. Hoạt động QL là một hiện tượng tất yếu phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người nhằm đoàn kết nhau lại tạo nên sức mạnh tập thể, thống nhất thực hiện một mục đích chung. “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên một quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý”[6], đó là lời khẳng định của C.
Về khái niệm quản lý, theo C. Mác, giống như công việc của người đội trưởng chỉ huy một tiểu đội hay một nhạc trưởng trong dàn hợp xướng. Theo Từ điển giáo dục học, Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Các hình thức chức năng quản lý chủ yếu gồm: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Cùng với sự phát triển của các phương thức sản xuất và nhận thức mở rộng của con người, nhận thức về khái niệm quản lý ngày càng sâu sắc. Khái niệm “Quản lý” theo bản thân có tính đa nghĩa nên có sự khác biệt giữa nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Mặt khác, do sự khác biệt về chế độ xã hội, nghề nghiệp, thời đại nên khái niệm quản lý cũng có những lý giải khác nhau. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt được mục đích nhất định”[23].
Theo Bùi Trọng Tuân – Nguyễn Kỳ “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội), thực hiện những chương trình mục đích hoạt động” [25]. - Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [15]. 8 Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý nhưng cùng thống nhất ở bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt kết quả mong muốn. Do vậy, quản lý được khái quát: Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường.
Trong thực tiễn quản lý, bốn chức năng lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra được thực hiện không tách rời, mà lồng ghép vào nhau, lập thành một chu trình quản lý. Quản lý giáo dục Có rất nhiều khái niệm khác nhau để giải đáp cho câu hỏi quản lý giáo dục là gì: Theo Okumbe, quản lý giáo dục là một quá trình thu thập và phân bổ nguồn lực để đạt được các mục tiêu giáo dục được xác định trước .Kônđacôp: “quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp khoa học nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển, mở rộng hệ thống giáo dục cả về số lượng cũng như chất lượng”[14]. Khái niệm quản lý giáo dục được xem xét ở hai cấp độ: “cấp độ vĩ mô là quản lý hệ thống giáo dục, cấp độ vi mô là quản lý nhà trường”, đó là nhận định của Trần Kiểm. Cấp độ vĩ mô, quản lí giáo dục hiểu theo nghĩa rộng là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục cho thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội.