CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG TÀI LIỆU DẠY HỌC TỰ CHỌN MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 5 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 2018 1. Định hướng phát triển năng lực ngôn ngữ trong Chương trình Ngữ văn 2018 Ngữ văn là môn học quan trọng trong việc đào tạo, bồi dưỡng trí tuệ, tâm hồn, nhân cách cho học sinh (HS) và cũng là phương tiện để học tốt các bộ môn khác.Yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo là một yêu cầu tất yếu của thực tiễn, trong đó việc xây dựng tài liệu dạy học tự chọn môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực của chương trình Ngữ Văn 2018 đang được quan tâm. Việc đổi mới phương pháp và hình thức dạy học, tăng cường tối đa khả năng vận dụng kiến thức đã học của học sinh vào hoạt động thực hành là điều kiện tiên quyết của đổi mới dạy học Ngữ văn theo định hướng năng lực. Trong bài viết Năng lực và giáo dục theo tiếp cận năng lực [13], tác giả Đặng Thành Hưng đã đưa ra quan niệm về năng lực như sau: “Năng lực (competency) là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện một thành công nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”.Weinert cho rằng: “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể”.
[dẫn theo 28, tr. Tác giả Lê Phương Nga trong bài viết Dạy học phát triển năng lực và kiểm tra đánh giá môn Tiếng Việt ở Tiểu học [21] cho rằng thuật ngữ năng lực ở đây được hiểu theo quan điểm giáo dục hướng vào năng lực hành động: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc 8 tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…, để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), năng lực được quan niệm là “Khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể” và phân chia thành hai nhóm chính: nhóm năng lực chung (gồm: Khả năng hành động độc lập thành công; Khả năng sử dụng các công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ; Khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất) và các năng lực chuyên môn. Tương ứng như vậy, đối với môn Ngữ văn, các năng lực này được xác định trên cơ sở mục tiêu giáo dục nói chung và mục tiêu môn học nói riêng (mục tiêu đó được nêu thành các mức độ dựa trên đặc điểm tâm lí và khả năng phát triển của học sinh), được thiết kế mức độ tăng dần theo các trình độ khác nhau tương ứng với các lớp và cấp học.
Việc triển khai dạy học các bộ môn nói chung và Ngữ văn nói riêng theo định hướng phát triển năng lực hiện nay là một yêu cầu bức thiết. Chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, trước hết, cần nhận thức đúng vị trí, vai trò của môn Ngữ văn của học sinh lớp 5 là: hình thành và phát triển các năng lực cốt lõi và năng lực đặc thù của môn học; đặc biệt là năng lực giao tiếp và năng lực cảm thụ, thưởng thức văn học; Góp phần bồi dưỡng và nâng cao vốn văn hóa cho người học thông qua những hiểu biết về ngôn ngữ và văn học, giáo dục, hình thành và phát triển cho học sinh những tư tưởng, tình cảm nhân văn, trong sáng, cao đẹp. Theo đó, dạy học theo định hướng phát triển năng lực đòi hỏi các môn học tích hợp một số nội dung tri thức và kĩ năng nhằm giải quyết các tình huống trong học tập và trong cuộc sống. Chương trình GDPT 2018 góp phần hình thành và phát triển các năng lực chung: Năng lực tự chủ và tự học; Năng lực giao tiếp và hợp tác; Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
Môn Ngữ văn là môn học giúp HS phát triển năng lực tư duy, năng lực 9 tưởng tượng và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự học và năng lực sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy. Định hướng phát triển năng lực ngôn ngữ trong Chương trình ngữ văn 2018 cụ thể trong môn Tiếng Việt lớp 5: Một là, góp phần hình thành và phát triển 5 phẩm chất (Yêu nước, nhân ái, trung thực, trách nhiệm, chăm chỉ) với các biểu hiện cụ thể: yêu quê hương, đất nước; có ý thức đối với cội nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học tập, ham thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh. Hai là, góp phần hình thành, phát triển năng lực gồm các năng lực chung và năng lực đặc thù. Năng lực đặc thù gồm năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học được biểu hiện qua các hoạt động đọc, viết, nói và nghe.
Học sinh có năng lực ngôn ngữ tốt sẽ đọc tốt, viết tốt, nói và nghe cũng tốt hơn. Các em biết cảm thụ cái hay cái đẹp, nhận biết được vẻ đẹp của ngôn từ nghệ thuật; có trí tưởng tượng, hiểu và biết xúc động trước cái đẹp, cái thiện của con người và thế giới xung quanh được thể hiện trong các văn bản văn học đó thể hiện được năng lực văn học của học sinh. Vai trò của tài liệu dạy học tự chọn môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực của chương trình Ngữ văn 2018 Chương trình Ngữ văn 2018 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh lớp 5 được thể hiện qua các tài liệu dạy học tự chọn của môn Tiếng Việt có vai trò quan trọng trong việc giúp HS phát triển toàn diện các phẩm chất và năng lực; kết hợp phát triển các năng lực chung (tự chủ và tự học; giao tiếp và hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo) với phát triển các năng lực đặc thù (NL ngôn ngữ, NL văn học,…); kết hợp hình thành và phát triển phẩm chất tốt đẹp, các năng lực cốt lõi để học sinh học tập tốt các môn học khác. Vai trò của tài liệu dạy học tự chọn môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 5 theo định hướng phát triển năng lực của chương trình Ngữ văn 2018 là một giải 10 pháp để thực hiện dạy học phân hóa theo đối tượng, linh hoạt về nội dung, phương pháp, thời gian học, làm cho việc học trở nên thiết thực, thích thú, đạt chất lượng, và hiệu quả cao hơn đối với mỗi cá nhân người học.
Có tài liệu dạy học tự chọn, giáo viên được chủ động lựa chọn về kiến thức, tiết kiệm thời gian ra đề bài cho học sinh, mà chất lượng giờ dạy lại được nâng cao. Dạy học tự chọn tạo điều kiện cho người học trên nhiều nền tảng kiến thức tối thiểu (được quy định bởi chương trình chuẩn ) có điều kiện tìm hiểu thêm những kiến thức, kĩ năng của những lĩnh vực mình ưa thích qua môn học tự chọn, giúp học sinh ôn tập, luyện tập theo nội dung tùy chọn, theo các mức độ nông sâu, tùy thuộc vào năng lực của bản thân, tránh được tình trạng quá tải trong học tập đối với học sinh. Các em có thể lựa chọn thời gian thích hợp và lựa chọn bài dễ làm trước, bài khó làm sau. Bởi vậy nó cho phép mọi học sinh kể cả những học sinh yếu kém nắm được những điều chủ yếu nhất của nội dung chương trình đại trà.
Nguyên lý cốt lõi của việc dạy học tự chọn là những học sinh khác nhau học các bình diện tri thức khác nhau theo những cách khác nhau. Dạy học tự chọn ở tiểu học nói chung và lớp 5 nói riêng nhằm giúp học sinh: - Phát triển được năng lực sở trường của từng cá nhân trong học tập. - Góp phần bồi dưỡng tài năng cho học sinh năng khiếu của trường, địa phương. - Đạt được mục tiêu của giáo dục tiểu học.
- Giúp HS phát hiện năng lực sáng tạo của mình trong việc đánh giá, tự đánh giá kiến thức và nội dung học tập. Phương pháp dạy học tự chọn phát huy tính chủ động sáng tạo, linh hoạt, tư duy đánh giá, tinh thần tự học của học sinh góp phần phát huy thế mạnh truyền thống của địa phương, đất nước. Đặc điểm tâm lí và tư duy ngôn ngữ của học sinh lớp 5 * Đặc điểm về tâm lí của học sinh lớp 5 Ở lứa tuổi này xuất hiện sự khác biệt hoàn toàn với lứa tuổi nhi đồng trước đó. Trẻ bắt đầu có những nhận thức mới về bản thân, gia đình, bạn bè 11 và môi trường xung quanh.
Trẻ bắt đầu nhận thức được cái tôi từ lứa tuổi này. Ở độ tuổi này nếu không được định hướng và can thiệp đúng đắn từ phía gia đình cũng như nhà trường thì rất dễ khủng hoảng về tâm lí: Bướng bỉnh, không nghe lời, trở nên lầm lì, ít nói, xa lánh mọi người, có những thái độ bất cần tạo nên sự khác biệt, có những hành vi lệch chuẩn, gây hấn, vi phạm pháp luật, đôi khi còn xuất hiện những suy nghĩ bế tắc và cảm thấy cô độc. Những điều này cho thấy việc lựa chọn môi trường học tập mới cho con một cách phù hợp là điều tối quan trọng đối với các bậc phụ huynh. Ở giai đoạn đầu cấp tiểu học tri giác học sinh thường gắn với hành động trực quan.
Đến lớp 5, tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, các em thích quan sát các sự vật hiện tượng xung quanh mình, gây ấn tượng hấp dẫn với các em. Tri giác của học sinh đã mang tính mục đích và định hướng rõ ràng hơn. Sau 5 năm học, "tính cách học đường" mới dần ổn định và bền vững ở trẻ.