LỜI MỞ ĐẦU. ii DANH MỤC CÁC BẢNG. v DANH MỤC CÁC HÌNH. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Tổng quan về tình hình phát triển ngành ô tô hiện nay. Tình hình trên thế giới. Tình hình tại Việt Nam. Tổng quan về dịch vụ bảo dƣỡng, sửa chữa ô tô tại Việt Nam hiện nay.
Tổng quan về xe ô tô Toyata Land Cuiser. Cơ cấu phân phối khí trên xe Toyota Land Cruiser. Mục đích, phân loại, yêu cầu cơ cấu phân phối khí. Cơ cấu phân phối khí trong động cơ bốn kỳ.
Các hiện tƣợng nguyên nhân hƣ hỏng của cơ cấu phân phối khí. NỘI DUNG QUY PHẠM PHÁP LUẬT TRONG CHẨN ĐOÁN, BẢO DƢỠNG VÀ SỬA CHỮA Ô TÔ. Những văn bản và quy định pháp luật về công tác chẩn đoán kỹ thuật và bảo dƣỡng kỹ thuật. Nội dung về các văn bản và quy định công tác bảo dƣỡng kỹ thuật.
XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHẨN ĐOÁN, BẢO DƢỠNG HỆ THÔNG PHÂN PHỐI KHI TRÊN XE TOYATA LAND CUISER. Các bƣớc căn bản của quá trình chẩn đoán kỹ thuật. Xác định thông số ra cho quá trình chẩn đoán cơ cấu phân phối khi trên xe Toyata Land Cuiser. Định nghĩa về chẩn đoán trạng thái kĩ thuật.
Các loại thông số dùng trong chẩn đoán. Các điều kiện để một thông số ra đƣợc dùng làm thông số chẩn đoán. Thông số ra trên cơ cấu phân phối khí. Thông số chẩn đoán.
Xây dựng quy trình chẩn đoán kỹ thuật cơ cấu phân phối khi trên xe Toyata Land Cuiser. Kiểm tra áp suất cuối kỳ nén. Kiểm tra, xác định độ kín nhóm pít tông - xéc măng - xilanh. Xây dựng quy trình bảo dƣỡng cơ cấu phân phối khí.
Chuẩn bị điều kiện để kiểm tra, điều chỉnh. Tháo nắp đậy dàn cò. Xác định thời điểm kiểm tra của máy số 1. Kiểm tra khe hở nhiệt máy số 01.
Kiểm tra các máy tiếp theo. Điều chỉnh khe hở nhiệt. Lắp nắp che giàn cò và đƣờng ống thông hơi tới các te. 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC iv DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.
Số ngƣời trên một ô tô tại các nƣớc. 7 DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1. Xe Toyota Land Cruiser Over View (Phiên bản 70) 1989-1997. Cơ cấu phân phối khí dùng xupap treo trên xe.
Các kỹ năng cơ bản về chẩn đoán kỹ thuật. Sơ đồ điều tra trƣớc chẩn đoán. Xác định xem đó có phải là hƣ hỏng hay không. Dự đoán nguyên nhân hƣ hỏng.
Kiểm tra khu vực nghi ngờ và phát hiện nguyên nhân. Ngăn chặn tái xuất hiện hƣ hỏng. Quy trình chẩn đoán kỹ thuật cơ cấu phân phối khí thông qua đo áp suất cuối kỳ nén. Áp kế cầm tay.
Đổ dầu bôi trơn vào buồng đốt. Quy trình kiểm tra và điều chỉnh khe hở nhiệt. Bộ dụng cụ. Kiểm tra dầu bôi trơn động cơ.
Tháo nắp đậy dàn cò. Nới ốc vít điều chỉnh. Kẹp thƣớc là điều chỉnh khe hở nhiệt. Tiến hành với nhứng máy còn lại.
Lắp đậy dàn cò. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về tình hình phát triển ngành ô tô hiện nay Để có đƣợc một ngành công nghiệp ô tô phát triển rực rỡ nhƣ ngày hôm nay, ngành công nghiệp này đã trải qua một thời gian dài phôi thai mà những nền tảng đầu tiên chính là phát minh ra các loại động cơ. Năm 1887, nhà bác học ngƣời Đức Nicolai Oto chế tạo thành công động cơ 4 kỳ và lắp ráp thành công chiếc ô tô đầu tiên trên thế giới.
Có thể nói ô tô ra đời là sự kết tinh tất yếu của một thời kỳ nở rộ những phát minh trong cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đầu tiên của nhân loại. Bởi ngay từ thế kỷ 13, nhà khoa học, triết học ngƣời Anh- Roger Bacon đã tiên đoán rằng “Rồi con ngƣời có thể chế tạo ra những chiếc xe có thể di chuyển bằng một loại sức kéo nhanh không thể tin nổi, song tuyệt nhiên không phải dùng những con vật để kéo”.1 Kể từ khi ra đời, ô tô đã dành đƣợc sự quan tâm của biết bao nhiêu nhà khoa học, bác học vĩ đại. Họ miệt mài nghiên cứu ngày đêm để không ngừng cải tiến nó về cả hình thức lẫn chất lƣợng: từ những chiếc xe thuở ban đầu thô sơ, kồng kềnh và xấu xí ngày càng trở nên nhỏ nhẹ hơn và sang trọng hơn. Không lâu sau ô tô trở nên phổ biến, với những ƣu điểm nổi trội về tốc độ di chuyển cao, cơ động, không tốn sức và vô số những tiện ích khác, ô tô đã trở thành phƣơng tiện hữu ích, không thể thiếu của ngƣời dân các nƣớc công nghiệp phát triển và là một sản phẩm công nghiệp có ý nghĩa kinh tế quan trọng ở tất cả các quốc gia trên thế giới.
Chính vì thế, theo lịch sử ngành công nghiệp ô tô thế giới, năm đầu tiên của thế kỷ 20-năm 1901, trên toàn thế giới đã có 621 nhà máy sản xuất ô tô xe máy, trong đó 112 ở Vƣơng quốc Anh, 11 ở Italy, 35 ở Đức, 167 ở Pháp, 215 ở Mỹ và 11 nƣớc khác. Tuy nhiên, mốc thời gian đánh dấu sự ra đời chính thức của ngành công nghiệp ô tô phải kể đến năm 1910 khi ông Henry Ford-Ngƣời sáng lập ra tập đoàn Ford Motor nổi tiếng, bắt đầu tổ chức sản xuất ô tô hàng loạt trên qui mô lớn. Vào những năm 1930 của thế kỷ 20, trƣớc chiến tranh thế giới thứ 2, ô tô đã có đƣợc những tính năng kỹ thuật cơ bản. Cùng với những thành tựu khoa học kỹ thuật thời đó, công nghiệp ô tô thế giới đã thực sự trở thành một ngành 1 sản xuất đầy sức mạnh với 3 trung tâm sản xuất chính Bắc Mỹ, Tây Âu (từ trƣớc chiến tranh thế giới thứ I) và Nhật Bản (trƣớc chiến tranh thế giới thứ II).
Hầu hết các hãng sản xuất có tên tuổi trên thế giới nhƣ Ford, General Motor, Toyota, Mercedes-Benz. đều ra đời trƣớc hoặc trong thời kỳ này. Sau chiến tranh thế giới thứ II, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại bùng nổ, ô tô và công nghiệp ô tô cũng có những bƣớc tiến vƣợt bậc. Những thành tựu khoa học kỹ thuật đƣợc áp dụng nhƣ vật liệu mới, kỹ thuật điện tử, điều khiển học,.
đã làm thay đổi cơ bản, bản thân ô tô và công nghiệp ô tô cả về mặt kỹ thuật, khoa học công nghệ cũng nhƣ về quy mô kinh tế xã hội. Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của ô tô và ngành sản xuất ô tô thế giới, có thể hoàn toàn đồng ý với ý kiến cho rằng thế kỷ 20 là thế kỷ của ô tô. Quá trình phát triển của ngành công nghiệp ô tô trên thế giới có thể chia làm 3 giai đoạn: Trƣớc năm 1945: Nền công nghiệp ô tô của thế giới chủ yếu tập trung tại Mỹ, sản lƣợng công nghiệp ô tô ở Tây Âu và Nhật Bản rất thấp. Giai đoạn 1945-1960: Sản lƣợng công nghiệp ô tô của Nhật Bản và Tây Âu tăng mạnh song còn nhỏ bé so với Mỹ.
Giai đoạn từ 1960 trở lại đây: Nền công nghiệp sản xuất ô tô xe máy Nhật đã vƣơn lên mạnh mẽ và đã chiếm vị trí thứ nhất trong ngành công nghiệp to lớn này. Nhật đã trở thành đối thủ số một của Mỹ và Tây Âu trong ngành công nghiệp ô tô. Ngành công nghiệp ô tô của Nhật có khả năng cạnh tranh rất lớn, để sản xuất 1 chiếc xe ô tô mới, Nhật chỉ cần 17 giờ trong khi Mỹ cần 25 giờ và Tây Âu cần 37 giờ. Còn để xuất xƣởng 1 mẫu xe mới Nhật chỉ cần 43 tháng trong khi Mỹ cần 62 tháng và Tây Âu cần những 63 tháng.
Bên cạnh đó là tính cạnh tranh của các bộ phận chi tiết phụ tùng. Số lƣợng các khuyết tật tính trung bình trên 1 xe của Nhật là 0,24 so với Mỹ là 0,33 và Tây Âu là 0,62. Tuy nhiên sức cạnh tranh này gần đây đã giảm. Tóm lại, trong quá trình phát triển kinh tế, mỗi quốc gia khu vực đều sớm nhận thấy tầm quan trọng của ngành công nghiệp ô tô và cố gắng xây dựng ngành công nghiệp này ngay khi có thể.
Nhƣng không vì thế mà ngành công nghiệp ô tô thế giới trở nên manh mún, nhỏ lẻ mà chính các tập đoàn ô tô khổng 2 lồ hoạt động xuyên quốc gia nhƣ một sợi dây xâu chuỗi liên kết có vai trò quyết định trong việc hình thành và phát triển ngành công nghiệp ô tô các quốc gia nói riêng và ngành công nghiệp ô tô thế giới nói chung. Vậy nên ngành công nghiệp ô tô thế giới hình thành, lớn mạnh và phát triển gắn liền với sự ra đời, liên kết, hợp tác, sáp nhập và lớn mạnh không ngừng của các tập đoàn ô tô khổng lồ hoạt động ở khắp các quốc gia, châu lục. Tình hình trên thế giới Sản lƣợng ô tô trên thế giới, từ năm 1960 đến nay, gần nhƣ ổn định quanh con số khoảng 50-52 triệu xe/năm, tập trung vào 3 trung tâm công nghiệp lớn là Mỹ, Nhật Bản và Tây Âu. Thị trƣờng thế giới về ô tô vào khoảng 780 tỷ USD/năm.
Riêng 6 tập đoàn lớn của công nghiệp ô tô năm 1999 đã sản xuất tới 82,5% tổng số ô tô thế giới trong đó Mỹ có 3 tập đoàn, Nhật, Đức, Pháp mỗi nƣớc một tập đoàn. Tại Châu Âu, đại diện cho nền công nghiệp ô tô là các Hãng nổi tiếng của Đức nhƣ BMW, Mercedes Benz; của Pháp nhƣ Renault, Peugeot, Citroen; của Italy nhƣ Fiat, Iveco. Riêng hãng xe Renault - Volvo đã có doanh số bán năm 1992 là 244 triệu FF. Tại Mỹ có ba hãng ô tô khổng lồ là GM, Ford, Chrysler và ngoài ra còn có các hãng xe của Nhật liên doanh nhƣ Navistar, US Honda, International, Diamondster, Numi.
Nhật Bản nổi tiếng với các hãng ô tô lớn mạnh không ngừng nhƣ Nissan, Toyota, Honda, Mitsubishi.Các hãng này đã vƣơn rộng ra các thị trƣờng thế giới và là từng làm các hãng xe Mỹ và Tây Âu điêu đứng ngay trên sân nhà của các hãng này. Cùng với sự phát triển của thƣơng mại quốc tế và xu thế toàn cầu hoá, một số quốc gia, khu vực nhƣ Trung Quốc và ASEAN đã có những thành tựu đáng kể trong tăng trƣởng kinh tế cũng đã gia nhập ngành công nghiệp ô tô thế giới. Hiện nay, hàng năm Trung Quốc sản xuất ra khoảng 1,2 triệu xe và các nƣớc ASEAN đã góp tiếng nói của mình với sản lƣợng gần 1 triệu xe mỗi năm.