CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vai trò của máu Máu là một chất dịch lưu thông khắp cơ thể có các chức năng rất quan trọng và phức tạp, bao gồm hô hấp: chuyên chở oxy và khí carbonic (oxy từ phổi tới các tổ chức và carbonic từ tổ chức tới phổi); dinh dưỡng: vận chuyển các chất dinh dưỡng cơ bản: chất đạm, chất béo, đường, vitamin. từ ruột tới tổ chức, tế bào; đào thải: vận chuyển các chất cặn bã của chuyển hoá tại các tổ chức tới các cơ quan bài tiết (thận, phổi, tuyến mồ hôi.); điều hoà hoạt động các cơ quan thông qua vận chuyển các hormon và các yếu tố điều hoà thể dịch khác; điều hoà thân nhiệt; bảo vệ cơ thể: thông qua chức năng của bạch cầu, kháng thể và các chất khác. Đặc biệt, khối lượng máu trong cơ thể chỉ chiếm 7-9% tổng trọng lượng cơ thể, ở người trưởng thành có khoảng 75ml máu trong mỗi kg trọng lượng cơ thể (15).
Hình thái và chức năng của các tế bào máu 1. Hồng cầu Hồng cầu được sinh ra ở tủy xương và phát triển qua nhiều giai đoạn từ tiền nguyên hồng cầu -> nguyên hồng cầu ưa bazơ -> nguyên hồng cầu đa sắc -> nguyên hồng cầu ưa acid -> hồng cầu lưới và cuối cùng là hồng cầu trưởng thành hoạt động ở máu ngoại vi. Hồng cầu trưởng thành là tế bào không nhân, hình đĩa lõm hai mặt, đường kính khoảng 7 µm. Nhuộm giemsa thấy hồng cầu màu hồng, ở giữa nhạt hơn.
Hồng cầu chứa huyết sắc tố là thành phần chức năng chính trong hồng cầu. Huyết sắc tố là một protein màu, gồm hai thành phần chính là Heme (có chứa sắt) và Globine gồm 4 chuỗi polypeptid giống nhau từng đôi một là huyết sắc tố A (2 chuỗi và 2 chuỗi ), huyết sắc tố A2 (2 chuỗi và 2 chuỗi ), và huyết sắc tố F (2 chuỗi và 2 chuỗi ). Ở người trưởng thành, huyết sắc tố A chiếm 95 - 99%, huyết sắc tố A2 chiếm 1,5 - 3%, và huyết sắc tố F chiếm 1 - 2%. Hơn thế nữa, chức năng chủ yếu của hồng cầu là vận chuyển oxy và khí carbonic.
Đời sống trung bình hồng cầu khoảng 120 ngày. Hồng cầu già được tiêu hủy tại hệ thống liên võng nội 5 mạc của cơ thể mà chủ yếu tại lách và tủy xương. Sau khi bị tiêu hủy, các thành phần của hồng cầu như sắt được giữ lại và về tủy xương tạo hồng cầu mới, heme được thoái biến thành bilirubin gián tiếp rồi về gan chuyển thành bilirubin trực tiếp (15). Bạch cầu hạt Dòng bạch cầu hạt được sinh ra từ tủy xương và phát triển qua nhiều giai đoạn: từ nguyên tủy bào (myeloblaste)-> tiền tủy bào (promyelocyte)-> tủy bào (myelocyte)-> hậu tủy bào (metamyelocyte)-> bạch cầu đũa (segment) và cuối cùng là bạch cầu đoạn (là loại tế bào trưởng thành đảm nhiệm chức năng bảo vệ cơ thể).
Bạch cầu hạt trưởng thành có đời sống khoảng 5-7 ngày. Bạch cầu già được tiêu hủy tại hệ liên võng của lách. Nhân của bạch cầu hạt trưởng thành có nhiều múi, bào tương có các hạt đặc hiệu và được chia ra làm 3 loại gồm bạch cầu đoạn trung tính (NEUT) có đặc điểm bào tương có chứa các hạt đặc hiệu màu hồng (khi nhuộm giemsa). Chức năng chủ yếu là thực bào vi khuẩn và các vật lạ, bảo vệ cơ thể (gọi là tiểu thực bào); bạch cầu ưa acid (EOS) có đặc điểm bào tương có chứa các hạt to, tròn đều, bắt màu da cam, nhân thường chỉ có hai múi.
Chức năng của chúng hiện nay chưa biết đầy đủ, nhưng sự tăng bạch cầu ái toan có liên quan mật thiết tới dị ứng và nhiễm ký sinh trùng; bạch cầu ưa baso (BASO) có đặc điểm bào tương có chứa các hạt bắt màu đen sẫm, thô, to không đều nhau, chồng đè lên cả nhân. Chức năng của chúng cũng chưa rõ ràng (15). Bạch cầu lympho Bạch cầu lympho được tạo ra từ tổ chức lympho (hạch, lách, tuyến ức) và một phần từ tủy xương. Đời sống của các lymphocyte rất khác nhau, có loại đời sống ngắn chỉ 1 - 3 ngày, có loại đời sống dài vài tháng, vài năm, có khi cả đời người.
Bạch cầu lympho già bị tiêu hủy ở lách và các tổ chức võng mô. Về hình thái chủ yếu gồm bạch cầu lympho nhỏ có đặc điểm đường kính chỉ khoảng 8-9 micromet, bào tương rất ít chỉ là một viền nhỏ quanh nhân; bạch cầu lympho to có đặc điểm bào tương rộng hơn. Hơn thế nữa, chức năng chủ yếu của bạch cầu lympho là tham gia vào đáp ứng miễn dịch của cơ thể, gồm lympho T đảm nhiệm chức năng miễn 6 dịch tế bào và lympho B đảm nhiệm chức năng miễn dịch dịch thể tức là sản xuất ra các kháng thể lưu hành (15). Bạch cầu mono Bạch cầu mono là những tế bào to, bào tương rộng, bắt màu xanh khói, không hạt, có thể có không bào (vacuole).
Nhân cuộn khúc, cấu trúc chất nhân như mái tóc uốn. Bạch cầu mono được sản sinh ra từ tủy xương cùng nguồn gốc với bạch cầu hạt. Chức năng quan trọng nhất của chúng là thực bào vi khuẩn và vật lạ (do vậy còn gọi là đại thực bào) và chính thông qua đó bạch cầu mono tham gia truyền đạt thông tin miễn dịch (15). Tiểu cầu Tiểu cầu là những mảnh bào tương của mẫu tiểu cầu, đường kính khoảng 2-3 micromet, không phải là một tế bào hoàn chỉnh.
Tiểu cầu có thể hình tam giác, tứ giác, hình trám, hình phẩy. Bình thường trên tiêu bản nhuộm giemsa tiểu cầu đứng thành từng đám to nhỏ khác nhau mà không đứng rời rạc. Đời sống tiểu cầu khoảng 7-10 ngày. Tiểu cầu già cũng bị phân hủy tại lách và hệ thống liên võng nội mạc.
Chức phận chủ yếu của tiểu cầu là tham gia vào quá trình cầm máu - đông máu của cơ thể (15). Xét nghiệm huyết học tế bào máu ngoại vi 1. Một số chỉ số tế bào máu ngoại vi Xét nghiệm tổng phân tích tế bào máu là xét nghiệm máu thường quy được sử dụng như một xét nghiệm cơ bản, là một xét nghiệm đầu tay, hữu ích trong thăm dò hầu hết các bệnh lý và là xét nghiệm được sử dụng với tần suất lớn tại các bệnh viện (16). Xét nghiệm này được ứng dụng để kiểm tra tình trạng sức khỏe, góp phần chẩn đoán sớm bệnh lý về máu như: thiếu máu, suy tủy, ung thư máu.
và các bệnh lý viêm nhiễm khác. Góp phần thông tin cho các bác sĩ theo dõi quá trình điều trị bệnh trong các trường hợp đang dùng thuốc có thể ảnh hưởng đến số lượng tế bào máu. Xét nghiệm tế bào máu ngoại vi đánh giá số lượng và chất lượng của ba dòng tế bào. Dòng hồng cầu gồm số lượng hồng cầu có trong một lít máu toàn phần (RBC), thể tích khối hồng cầu (HCT), lượng huyết sắc tố (HGB), lượng huyết sắc tố 7 trung bình hồng cầu (MCH), nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC), thể tích trung bình của hồng cầu (MCV), phần trăm dải phân bố kích thước hồng cầu (RDW-CV).
Dòng bạch cầu gồm số lượng bạch cầu có trong một lít máu toàn phần (WBC), số lượng tuyệt đối và phần trăm bạch cầu đoạn trung tính (NEUT#,%), số lượng tuyệt đối và phần trăm bạch cầu lympho (LYMPH#,%), số lượng tuyệt đối và phần trăm bạch cầu mono (MONO#,%), số lượng tuyệt đối và phần trăm bạch cầu ưa acid (EOS#,%), số lượng tuyệt đối và phần trăm bạch cầu ưa bazo (BASO#,%). Dòng tiểu cầu gồm số lượng tiểu cầu (PLT), thể tích trung bình tiểu cầu (MPV) và độ phân bố tiểu cầu (PDW). Số lượng hồng cầu có trong một lít máu toàn phần (RBC) tăng trong trường hợp cô đặc máu, đa hồng cầu nguyên phát…và có thể giảm trong mất máu, thiếu sắt, suy tủy xương, rối loạn sinh tủy… Thể tích khối hồng cầu (HCT) tăng thường gặp trong trường hợp cô đặc máu, đa hồng cầu… và giảm trong trường hợp có thiếu máu. Lượng huyết sắc tố (HGB) tăng có thể gặp trong bệnh đa hồng cầu và thường giảm trong thiếu máu.
Lượng huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCH) cho biết hồng cầu bình sắc hay nhược sắc. Nồng độ huyết sắc tố trung bình hồng cầu (MCHC) kết hợp cùng chỉ số MCH cho biết hồng cầu bình sắc hay nhược sắc, và thường tăng trong trường hợp mất nước ưu trương và thường giảm trong trường hợp giảm acid folic và vitamin B12, nghiện rượu,. Thể tích trung bình hồng cầu (MCV) giúp đánh giá kích thước hồng cầu to hay nhỏ, thường tăng trong thiếu vitamin B12, thiếu acid folic,. và giảm trong bệnh thalassemia, suy thận,.
Dải phân bố kích thước hồng cầu (RDW-CV) đánh giá mức độ đồng đều về kích thước giữa các hồng cầu. RDW tăng kết hợp với MCV tăng trong trường hợp thiếu hụt vitamin B12, thiếu hụt folate, thiếu máu tan huyết do miễn dịch, ngưng kết lạnh, bệnh bạch cầu lympho mạn. RDW tăng kết hợp MCV bình thường gặp trong nguy cơ thiếu sắt giai đoạn sớm, thiếu hụt vitamin B12 giai đoạn sớm, thiếu hụt folate giai đoạn sớm, thiếu máu do bệnh globin. RDW tăng kết hợp MCV giảm do thiếu sắt, sự phân mảng hồng cầu, bệnh Thalassemia.
Số lượng bạch cầu có trong một lít máu toàn phần (WBC) thường tăng trong trường hợp viêm nhiễm, bệnh lý ác tính và giảm trong trường hợp: thiếu máu do 8 giảm sinh tủy, dùng thuốc,. Bạch cầu đoạn trung tính thường tăng trong trường hợp nhiễm khuẩn cấp, và có thể giảm trong trường hợp nhiễm độc nặng, sốt rét, nhiễm virus,. Bạch cầu lympho (LYMPH) thường tăng trong nhiễm khuẩn mạn tính, bệnh bạch cầu dòng lympho và giảm trong các bệnh như lao, HIV/AIDS, ung thư,. Bạch cầu Mono (MONO) thường tăng trong trường hợp nhiễm virus, lao,.
và giảm trong trường hợp dùng corticoid,. Bạch cầu ưa acid (EOS) thường tăng trong trường hợp nhiễm ký sinh trùng, dị ứng, và thường giảm trong trường hợp sử dụng corticoid. Bạch cầu ưa bazo (BASO) có thể tăng trong trường hợp leukemia mạn tính,… và giảm trong trường hợp tổn thương tủy xương. Số lượng tiểu cầu (PLT) có vai trò quan trọng trong quá trình đông máu, trường hợp tăng khi gặp chấn thương, phẫu thuật lá lách, và giảm trong trường hợp suy tủy, điều trị hóa chất, ung thư di căn,.
Thể tích trung bình tiểu cầu (MPV) thường tăng trong các trường hợp bệnh lý tim mạch sau nhồi máu cơ tim, đái tháo đường, tiền sản giật, hút thuốc lá, cắt lách, stress, nhiễm độc do tuyến giáp… và thường giảm trong trường hợp thiếu máu do bất sản, hoá trị, lupus ban đỏ,… Độ tập trung tiểu cầu (PDW) có thể tăng trong ung thư phổi, bênh hồng cầu hình liềm, nhiễm khuẩn huyết,… và có thể giảm trong trường hợp nghiện rượu,… 1.