Tổng quan nghiên cứu
Quá trình đổi mới đất nước từ năm 1986 đã mở ra giai đoạn phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa là địa bàn đồng bằng ven biển có diện tích tự nhiên 227,63 km2 với quy mô dân số năm 2007 đạt khoảng 280.000 người, mật độ 1.168 người/km2. Là một vùng đất giàu truyền thống cách mạng và văn hóa biển đặc trưng, địa phương này đóng vai trò vệ tinh kinh tế - văn hóa trọng yếu của tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên, bước vào thập niên 1990, tác động mặt trái của kinh tế thị trường cùng những khó khăn sau thời kỳ bao cấp đã làm nảy sinh nhiều tập tục lạc hậu, xói mòn các chuẩn mực đạo đức làng xã.
Trước bối cảnh đó, Đảng bộ huyện Quảng Xương đã tập trung lãnh đạo sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa cơ sở nhằm khơi dậy nguồn lực tinh thần phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tập trung làm rõ chủ trương, quá trình chỉ đạo và các bước đột phá của Đảng bộ huyện trong giai đoạn 20 năm, từ năm 1991 đến năm 2010. Không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ 41 xã và 1 thị trấn với hơn 400 thôn, làng, khu phố. Đề tài mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc khi đúc kết bài học kinh nghiệm từ thực tiễn cơ sở, chứng minh sự chuyển biến từ tỷ lệ 43,5% làng xây dựng quy ước văn hóa giai đoạn đầu đến sự tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11% giai đoạn 2001-2005.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Trong đó, kinh tế đóng vai trò nền tảng vật chất, còn văn hóa là thượng tầng kiến trúc phản ánh và tác động trở lại mạnh mẽ tiến trình phát triển xã hội. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đời sống mới, được phát động từ năm 1946 với các chuẩn mực đạo đức Cần, Kiệm, Liêm, Chính, kết hợp hài hòa giữa truyền thống tốt đẹp và nếp sống văn minh hiện đại.
Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên 5 khái niệm cốt lõi: văn hóa, đời sống văn hóa cơ sở, thiết chế văn hóa, gia đình văn hóa và làng văn hóa. Các khái niệm này được cụ thể hóa theo đường lối đổi mới văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiêu biểu là Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII năm 1998 và Quyết định 308/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được khai thác toàn diện từ hệ thống văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV đến khóa XI của Đảng; các Nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy Thanh Hóa, tiêu biểu là Nghị quyết số 01-NQ/T4 năm 1976; báo cáo tổng kết của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Quảng Xương qua các kỳ Đại hội Đảng bộ từ khóa XIII đến khóa XXI; cùng tư liệu lưu trữ của ngành Văn hóa - Thông tin từ năm 1991 đến năm 2010.
Nghiên cứu khảo sát toàn bộ cỡ mẫu gồm 41 xã, 1 thị trấn với trên 400 thôn, làng, phục vụ hơn 280.000 người dân. Phương pháp chọn mẫu điển hình được áp dụng tại các tiểu vùng đại diện: tiểu vùng đồng bằng (Quảng Tân, Quảng Thịnh), tiểu vùng ven biển (Quảng Nham, Quảng Hùng) và các địa bàn có đồng bào tôn giáo (Quảng Hợp, Quảng Trường). Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được lựa chọn làm phương pháp chủ đạo nhằm tái hiện chân thực tiến trình lãnh đạo theo trình tự thời gian 20 năm trong mối liên hệ nhân quả khách quan. Ngoài ra, phương pháp thống kê, so sánh đối chiếu và phân tích liên ngành được sử dụng để lượng hóa các chỉ tiêu văn hóa, đánh giá sự tương tác giữa văn hóa và kinh tế địa phương.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, công tác xây dựng gia đình văn hóa và làng văn hóa tạo bước nhảy vọt về quy mô. Giai đoạn 1991-1995, toàn huyện đã có 186/400 làng (chiếm tỷ lệ 43,5%) xây dựng quy ước nếp sống văn hóa, 25/42 xã triển khai làng văn hóa và hơn 50% số hộ đăng ký thi đua. Đến cuối năm 1995, có 13.500 gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa, trong đó 530 hộ đạt chuẩn văn hóa xuất sắc.
Thứ hai, hạ tầng thiết chế văn hóa cơ sở được củng cố vượt bậc. Từ nền tảng năm 1978 với 39/41 xã có thư viện và 21/41 xã có đội văn nghệ, huyện đã đưa Nhà văn hóa trung tâm đi vào hoạt động từ năm 1988 và xây mới 15 đài truyền thanh xã vào năm 1991, hoàn thiện mạng lưới thông tin tuyên truyền rộng khắp 41 xã.
Thứ ba, phong trào đền ơn đáp nghĩa và giáo dục truyền thống đạt kết quả to lớn. Tính đến cuối năm 1995, huyện đã hoàn thành 25 đài bia tưởng niệm liệt sĩ, xây dựng 47 nhà tình nghĩa, tôn tạo 68 ngôi mộ Bà mẹ Việt Nam anh hùng và trao tặng 1.600 sổ tiết kiệm cho các gia đình người có công.
Thứ tư, văn hóa đóng vai trò đòn bẩy thúc đẩy kinh tế. Sau khi cơ bản xóa nạn đói gay gắt, tỷ lệ hộ giàu của huyện đạt 12,46% năm 1996, tạo đà cho giai đoạn 2001-2005 đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 11%/năm, cao hơn thời kỳ 1996-2000 khoảng 3,04%.
Thảo luận kết quả
Sự thành công của Đảng bộ huyện Quảng Xương bắt nguồn từ việc cụ thể hóa đường lối của Trung ương vào hoàn cảnh địa phương, khơi dậy tinh thần tự quản thông qua hương ước làng xã và phát huy vai trò của các dòng họ lớn như họ Lê Văn (Quảng Thọ), họ Bùi (Quảng Tân), họ Lữ (Quảng Ninh) trong việc lập quỹ khuyến học. Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trình bày rõ ràng thông qua biểu đồ đường thể hiện tốc độ phát triển gia đình văn hóa từ năm 1995 đến năm 2010, kết hợp bảng ma trận so sánh các tiêu chí thiết chế văn hóa giữa 21 xã đồng bằng và 20 xã ven biển.
So sánh với các địa bàn lân cận như Nga Sơn hay Hoằng Hóa, mô hình tại Quảng Xương có tính đột phá nhờ sớm gắn kết quy ước văn hóa với phong trào xóa đói giảm nghèo. Dù vậy, nghiên cứu cũng chỉ ra hạn chế: phong trào ở một số nơi còn mang tính hình thức, tình trạng phô trương trong việc cưới, tang vẫn tái diễn và cơ sở vật chất văn hóa ở các xã bãi ngang còn thiếu thốn so với vùng trung tâm.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch mạng lưới thiết chế văn hóa - thể thao cơ sở. Ủy ban nhân dân huyện Quảng Xương và Phòng Văn hóa - Thông tin cần tập trung nguồn lực ngân sách và xã hội hóa để nâng cấp 100% trung tâm văn hóa cấp xã, bảo đảm 400 thôn làng có nhà văn hóa đạt chuẩn vào năm 2015, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của trên 80% người dân địa phương.
Thứ hai, chuẩn hóa việc thực hiện nếp sống văn minh theo Quyết định 308/2005/QĐ-TTg. Ban Thường vụ Huyện ủy chỉ đạo các chi bộ cơ sở đưa tiêu chí thực hiện tiết kiệm trong việc cưới, việc tang, bài trừ mê tín dị đoan vào đánh giá phân loại đảng viên hàng năm, đặt mục tiêu giảm 90% các vi phạm lãng phí trong cộng đồng dân cư trong vòng 2 năm.
Thứ ba, nâng cao chất lượng phong trào gia đình văn hóa gắn với mục tiêu an sinh xã hội. Ban Chỉ đạo phong trào Toàn dân đoàn kết huyện phối hợp cùng Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp phấn đấu nâng tỷ lệ gia đình văn hóa đạt trên 85% và làng văn hóa đạt 70% vào năm 2015, đồng thời lồng ghép chỉ tiêu hỗ trợ sinh kế cho 500 hộ khó khăn mỗi năm.
Thứ tư, chuẩn hóa và đào tạo đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở. Ban Tuyên giáo Huyện ủy kết hợp Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện định kỳ tổ chức 2 khóa bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý văn hóa và lý luận chính trị mỗi năm cho 100% cán bộ văn hóa của 41 xã, thị trấn.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhóm thứ nhất là cán bộ lãnh đạo, cấp ủy Đảng và các cơ quan quản lý văn hóa cấp huyện, tỉnh. Công trình cung cấp hệ thống 4 nhóm giải pháp thực tiễn để hoạch định chính sách xây dựng đời sống văn hóa cho 41 đơn vị hành chính cấp xã.
Nhóm thứ hai là học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Văn hóa học. Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học với khung thời gian 20 năm (1991-2010), kế thừa hơn 70 danh mục tư liệu văn kiện chính thống.
Nhóm thứ ba là giảng viên lý luận chính trị tại các trường Chính trị tỉnh và Trung tâm bồi dưỡng cấp huyện. Đề tài là nguồn dữ liệu thực tế sinh động để biên soạn bài giảng lịch sử địa phương cho hơn 300 học viên mỗi khóa đào tạo.
Nhóm thứ tư là Ban công tác Mặt trận và trưởng thôn, làng tại cơ sở. Tài liệu hỗ trợ trực tiếp phương pháp soạn thảo quy ước làng văn hóa cho 400 thôn, làng theo đúng quy định hiện hành.
Câu hỏi thường gặp
Mục tiêu cốt lõi của Đảng bộ huyện Quảng Xương trong giai đoạn 1991-2000 là gì?
Đảng bộ huyện tập trung khắc phục tư tưởng trì trệ, khôi phục nếp sống văn minh làng xã, triển khai quy ước tại 186 làng (đạt 43,5%), xây dựng 25/42 xã có làng văn hóa và công nhận 13.500 gia đình văn hóa, tạo nền tảng ổn định xã hội.
Hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở tại Quảng Xương phát triển như thế nào?
Từ mốc 39/41 xã có thư viện năm 1978, huyện đã xây dựng Nhà văn hóa trung tâm năm 1988 và lắp đặt thêm 15 đài truyền thanh xã năm 1991, bảo đảm mạng lưới phát thanh phục vụ 280.000 người dân.
Giải pháp nào giúp Quảng Xương giảm thiểu hủ tục cưới xin, ma chay?
Cấp ủy huyện đã triển khai Chỉ thị 27-CT/TW năm 1998 và Quyết định 308/2005/QĐ-TTg, đưa việc thực hiện nếp sống văn minh vào quy ước của hơn 400 làng, đồng thời gắn trách nhiệm nêu gương vào đánh giá cán bộ, đảng viên.
Xây dựng đời sống văn hóa đóng góp gì vào phát triển kinh tế của huyện?
Môi trường văn hóa lành mạnh đã tạo động lực lao động sản xuất, giúp tỷ lệ hộ giàu đạt 12,46% năm 1996 và nâng tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2001-2005 lên mức 11%, tăng 3,04% so với giai đoạn trước.
Bài học kinh nghiệm lớn nhất từ quá trình lãnh đạo văn hóa của huyện là gì?
Bài học quyết định là phải bám sát định hướng của Đảng, khơi dậy tinh thần tự quản của nhân dân, kết hợp 5 tiêu chuẩn làng văn hóa với truyền thống dòng họ và đầu tư thiết chế đồng bộ cho 100% cơ sở.
Kết luận
- Đảng bộ huyện Quảng Xương đã lãnh đạo toàn diện và sáng tạo sự nghiệp xây dựng đời sống văn hóa cơ sở trong suốt 20 năm đổi mới (1991-2010).
- Phong trào đạt kết quả ấn tượng với 43,5% làng lập quy ước và 13.500 gia đình văn hóa ngay từ giai đoạn 1991-1995.
- Hoàn thiện mạng lưới thiết chế với 15 đài truyền thanh xã và nhà văn hóa trung tâm, phục vụ hơn 280.000 người dân.
- Đời sống tinh thần lành mạnh trở thành động lực quan trọng đưa tăng trưởng kinh tế đạt 11% giai đoạn 2001-2005.
- Đúc kết 4 bài học sâu sắc về kết hợp hương ước, dòng họ với các chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Đóng góp lớn nhất của luận văn là khôi phục bức tranh lịch sử chân thực về sự chuyển mình văn hóa tại huyện Quảng Xương, cung cấp hệ thống tư liệu quý báu phục vụ nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2011-2020, các địa phương cần tiếp tục nghiên cứu mở rộng mô hình này gắn với chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Hãy vận dụng các bài học và giải pháp từ công trình này để nâng cao chất lượng đời sống văn hóa cơ sở tại các địa phương trên toàn quốc.