mở đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp ở Nhật Bản trên quy mô lớn. Đây được coi là thời kỳ tạo lập nền móng cơ bản cho cuộc công nghiệp hoá. Coi trọng nhất trong giai đoạn này là chuẩn bị cơ sở vật chất chất để đón nhận kỹ thuật mới, trong đó, lĩnh vực tập trung phát triển là xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển vận tải. - Giai đoạn 2 (Từ Chiến tranh thế giới thứ nhất đến chiến tranh thế giới thứ hai): Giai đoạn này khẳng định hoàn toàn chủ nghĩa tư bản và nền móng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế quốc dân của Nhật Bản.
Trong hai thập kỷ, Nhật Bản đã phát huy các tiềm lực công nghiệp mà thời Minh Trị đã đặt nền móng và được mở mang thêm. Các ngành công nghiệp nặng phát triển rất nhanh chóng, trước hết là công nghiệp khai khoáng. Ngành khai thác than, ngành điện lực cũng có bước tiến nhảy vọt. - Giai đoạn 3 (từ chiến tranh thế giới thứ 2 đến cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới giữa những năm 1970): Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định trong việc đưa Nhật Bản tiến lên thành một cường quốc công nghiệp thứ hai trên thế giới sau Mỹ.
19 Điều kiện lúc này là chiến tranh bùng nổ ở 1 số nước châu Á. Bước sang những năm 1950, Nhật Bản bắt đầu cất cánh với tốc độ thần kỳ. Việc cung cấp hàng quân sự cho Mỹ trong cuộc chiến tranh Triều Tiên làm cho xuất khẩu tăng vọt, giải toả khối lượng hàng tồn đọng khổng lồ, phục hồi được mức sản xuất trước chiến tranh. Từ đó, Nhật Bản bắt đầu kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế siêu tốc, chẳng những vượt xa tốc độ phát triển của chính nó trong quá khứ mà còn bỏ xa tốc độ tăng trưởng của các nước khác.
Tập trung phát triển lúc này là xuất khẩu hàng công nghiệp tiêu dùng, hàng chiến tranh. Công nghiệp là lĩnh vực sản xuất then chốt và cũng là lĩnh vực phát triển mạnh nhất. Công nghiệp vừa là tiền đề, vừa được hỗ trợ mạnh mẽ của sự gia tăng ngoại thương. Tốc độ gia tăng buôn bán quốc tế của Nhật Bản thời kỳ này còn lớn hơn cả tốc độ tăng trưởng kinh tế.
- Giai đoạn 4 (từ giữa những năm 1970 đến nay và tiếp sau): Với chính sách phát triển mạnh công nghiệp xuất khẩu, Nhật Bản đã nhập khẩu công nghệ, ứng dụng và xuất khẩu sản phẩm. Sau khi sản phẩm công nghiệp chiếm lĩnh thị phần lớn trên thế giới, Nhật Bản đã trở thành một nước công nghiệp phát triển cạnh tranh với Mỹ và Tây Âu. Đến nay Nhật Bản chuyển mạnh sang sản xuất công nghiệp với công nghệ hiện đại, tinh vi, chính xác. Hàn Quốc Hàn Quốc là một vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á, khí hậu ôn đới với diện tích tự nhiên khoảng 100.000 km2, mật độ dân số khoảng 500 người/km2.
Đất để phát triển nông nghiệp khá hạn chế nhưng tài nguyên khá đa dạng, có than, chì, kẽm, vonfram… với trữ lượng không lớn. Từ một vùng lãnh thổ Châu Á, điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi, Hàn Quốc đã tập trung hướng vào phát triển công nghiệp làm cho nền kinh tế phát triển khá nhanh. Đến nay, Hàn Quốc là lãnh thổ phát triển có thu nhập cao. Sau năm 1953, Hàn Quốc tách ra từ bán đảo Triều Tiên do cuộc chiến tranh Nam - Bắc Triều Tiên và trở thành 1 lãnh thổ dưới sự bảo trợ của Mỹ.
Điều kiện tự nhiên của Hàn Quốc không mấy thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Điều kiện về vị trí trung chuyển bằng đường biển là yếu tố thuận lợi cho Hàn Quốc phát triển công nghiệp sau này. Cộng vào đó nền kinh tế dược nguồn tài trợ lúc đầu khá lớn từ phía Mỹ. Từ đầu những năm 1980 đến nay, Hàn Quốc đã bước vào hàng ngũ của những nước và vùng lãnh thổ công nghiệp mới với tiềm năng kinh tế công nghệ khá phát triển.
Là lãnh thổ công nghiệp mới phát triển, có thu nhập bình quân đầu người năm 2004 đạt 13. Các giai đoạn phát triển - Giai đoạn những năm 1950 - 1960: Trở thành một lãnh thổ độc lập, giai đoạn này Hàn Quốc hướng vào tái thiết kinh tế và cung cấp hàng chiến tranh do Mỹ phát động. Chính quyền đưa ra kế hoạch xây dựng lãnh thổ với mục tiêu tự cung tự cấp đầy đủ thông qua việc sử dụng các nguồn lao động và 20 tài nguyên trong nước kết hợp với viện trợ nước ngoài. Tập trung vốn cho kết cấu hạ tầng và các ngành cần nhiều lao động.
Phát triển các ngành gia công, sản xuất hàng phục vụ chiến tranh, Hàn Quốc đã lợi dụng được lượng vốn từ viện trợ nước ngoài như một “cú hích” trong giai đoạn này cho phát triển nền kinh tế khá lạc hậu của mình. - Giai đoạn những năm 1960 - 1980: Là đồng minh của Mỹ tham gia các cuộc chiến tranh khu vực, trong giai đoạn này, Hàn Quốc đẩy mạnh tốc độ phát triển công nghiệp, chủ yếu là công nghiệp chế biến xuất khẩu cung cấp sản phẩm làm ra cho hệ thống rộng lớn các nước tư bản chủ nghĩa. Bên cạnh việc chú trọng phát triển công nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến để phục vụ chiến tranh trong hệ thống các nước đồng minh, giai đoạn này Hàn Quốc chú trọng rất nhiều đến phát triển kết cấu hạ tầng. Tất cả hệ thống giao thông, liên lạc và hệ thống hạ tầng khác đều được khởi công ở mức độ hiện đại.
Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho phát triển công nghiệp của Hàn Quốc trong các giai đoạn sau. - Giai đoạn sau năm 1980: Nhờ phát triển mạnh mẽ kết cấu hạ tầng và cơ sở công nghiệp do viện trợ của Mỹ ở giai đoạn trước mà giai đoạn này Hàn Quốc đã thu hút được nhiều đầu tư từ nước ngoài. Điều này giúp cho Hàn Quốc phát triển công nghiệp sản xuất các hàng xuất khẩu với tốc độ rất nhanh. Với điều kiện kết cấu hạ tầng tốt đủ điều kiện để phát triển nền kinh tế hướng ngoại, giai đoạn này nền kinh tế Hàn Quốc phát triển chủ yếu là công nghiệp kỹ thuật cao, trong đó các ngành điện và điện tử, công nghiệp chế tạo kim loại và chế tạo máy có tỷ lệ cao hơn cả.
Trung Quốc Trung Quốc là nước lớn nhất Châu Á, diện tích lớn thứ ba thế giới và dân số đông nhất thế giới. Là nước thuộc Đông Bắc Á, đất rộng người đông, điều kiện tự nhiên đa dạng. Diện tích khoảng 9.600 nghìn km2, mật độ khoảng 133 - 135 người/km2. Trung Quốc là một thị trường khổng lồ với nhiều tiềm năng chưa được khai thác, rất thuận lợi cho việc đầu tư từ bên ngoài.
Trung Quốc có nền văn hóa lâu đời. Đến nay Trung Quốc còn có cả Hồng Kông và Đài Loan làm cho năng lực kinh tế rất hùng hậu. Thu nhập bình quân đầu người năm 2004 của Trung Quốc đạt 1.625 nhân dân tệ. Trung Quốc phát triển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa.
Trải qua nhiều giai đoạn phát triển kinh tế, chuyển đổi cơ chế chính sách, từ năm 1982 Trung Quốc đã chuyển dần sang cơ chế thị trường mang màu sắc Trung Quốc. Thành tựu về kinh tế phát triển rất nhanh. Năm 1999, Trung Quốc đã trở thành nhà sản xuất lớn nhất trên thế giới về các sản phẩm ngũ cốc, thịt, bông, thép, than, xi măng, phân bón hoá học và máy thu hình, là nhà phân phối đứng vị trí thứ 7 và 8 lên vị trí thứ 5 và thứ 2 về các lĩnh vực dầu thô và điện tử vào năm 1987. Trong khi đó, vị trí thứ hạng của Trung Quốc về sản xuất các sản phẩm trên toàn cầu ngày càng nhích lên.
21 Các giai đoạn phát triển - Giai đoạn trước năm 1970: Sản xuất nông nghiệp, cải cách nông thôn Là nước nông nghiệp, Trung Quốc trải qua giai đoạn phát triển phong kiến đặc biệt, chia cắt qua nhiều thập kỷ. Sau khi thống nhất đất nước, Trung Quốc phát triển theo chủ nghĩa xã hội, theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung như các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa khác. - Giai đoạn 1970 - 1980: phát triển công nghiệp, tiếp tục cải cách nông thôn. Đây là giai đoạn mở cửa đổi mới của Trung Quốc.
Đầu tư phát triển công nghiệp nặng là chủ yếu tuân theo kịch bản phát triển của hệ thống xã hội chủ nghĩa. - Giai đoạn 1980 - 1990: Những năm 1980 kinh tế Trung Quốc phát triển nổi bật ở nhịp độ phát triển nhanh 8,9%/năm gấp 3,2 lần mức tăng của thế giới. Đây là giai đoạn đầu của quá trình đổi mới. Trung Quốc đặt mục tiêu giá trị sản lượng công, nông nghiệp năm 1990 gấp hai lần năm 1980, đồng thời phát triển công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp nhẹ.
Từ giữa những năm 1980 có sự gia tăng một loạt các loại hàng hoá thay thế cho sự khan hiếm hàng hoá một thời kỳ dài trước đó mà điều đó gây ra không ít khó khăn trong đời sống và kinh tế của người dân. Sự thay đổi này xuất phát từ sự phát triển lực lượng sản xuất, cũng như là từ quá trình cơ cấu lại hệ thống kinh tế quốc gia. - Giai đoạn sau năm 1990: Trong giai đoạn này có một nghịch lý là Trung Quốc bằng mọi cách giảm nhịp độ tăng trưởng xuống dưới 10%, trong khi rất nhiều nước lại tăng trưởng rất thấp và khó có khả năng tăng lên. Tỷ trọng công nghiệp trong GDP đã tăng lên làm giảm dần sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế của Trung Quốc chỉ thiên về sản xuất nông nghiệp trong thời kỳ trước.
Công nghiệp với công nghệ tiên tiến ra đời đã cung cấp trang thiết bị hiện đại đưa kinh tế đất nước phát triển. Sản xuất công nghiệp đã làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi về căn bản. Sản phẩm công nghệ cao đã xuất hiện và chiếm 14,9% trong tổng xuất khẩu toàn quốc. Trung Quốc đã có một sự chuyển dịch lớn trong cơ cấu kinh tế, một thời kỳ mà công nghiệp hoá đã tăng tốc hơn bất kỳ một quốc gia nào.
Một số nhận xét chung Hầu hết các nước và vùng lãnh thổ, nhất là những nước và vùng lãnh thổ có bước phát triển nhảy vọt, cũng đều trải qua những mô hình, giai đoạn phát triển kinh tế chung, người ta đã nghiên cứu và tìm ra những ngành/sản phẩm chủ lực trong những thời kỳ nhất định và đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ.