CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC CÔNG TY 1.TỔNG QUAN VỀ CHIẾN LƯỢC CÔNG TY 1.Khái niệm: Theo Michael.Porter, giáo sư của trường Havard về chiến lược cạnh tranh thì “Hầu như không có sự thống nhất với nhau về khái niệm chiến lược là gì, mà là làm thế nào công ty xây dựng chiến lược”. Điều đó cho thấy rằng khái niệm “chiến lược” sẽ có nhiều định nghĩa khác nhau. Tuy nhiên vẫn có thể xem xét một số định nghĩa về chiến lược công ty của các học giả để từ đó rút ra được những đặc điểm của chiến lược công ty. Theo Feurer và Chaharbaghi, chiến lược bắt nguồn từ chữ strategia của Hy Lạp có nghĩa là nghệ thuật của chiến tranh.
Theo đó, chiến lược là một kế hoạch quan trọng mà mục tiêu là đánh bại kẻ thù. Để đạt được mục tiêu này, chiến lược cũng đưa ra làm thế nào để sử dụng nguồn lực sẵn có một cách tốt nhất. Qua thời gian, khái niệm này được phát triển và được sử dụng trong hoạt động kinh doanh Theo Chandler (1962) , chiến lược là việc xác định những mục tiêu cơ bản của công ty và lựa chọn phương thức hành động, bao gồm việc phân bổ nguồn lực cần thiết, để đạt được các mục tiêu này. Andrew (1971) thì cho rằng chiến lược là một quy trình ra những quyết định hợp lý dựa trên tính phù hợp giữa nguồn lực của công ty với những cơ hội ở môi trường bên ngoài công ty.
Porter (1996), trong bài viết “Chiến lược là gì?” của tạp chí Havard Business Review, đã đưa ra những quan điểm mới về thực hành chiến lược của ông thông qua sự so sánh với quan điểm chiến lược cổ điển như sau: 1 Bảng 1.1: Những quan điểm chiến lược của Porter Mô hình chiến lược được sử dụng trong Lợi thế cạnh tranh bền vững thập kỷ qua • Một vị thế cạnh tranh lý tưởng trong • Vị thế cạnh tranh vượt trội của công một ngành ty • So sánh tất cả các hoạt động của • Các hoạt động phải hỗ trợ cho chiến công ty và tìm ra hoạt động tốt nhất lược • Tăng cường thuê ngoài và hợp tác • Những lựa chọn và đánh đổi phải rõ nhằm đạt hiệu quả ràng so với đối thủ cạnh tranh • Lợi thế dựa trên một số các yếu tố • Lợi thế lâu dài dựa trên toàn bộ hoạt thành công, nguồn lực quan trọng động công ty thay vì chỉ phụ thuộc và năng lực cốt lõi vào một bộ phận. • Linh hoạt và phản ứng tốt đối với • Đòi hỏi hiệu quả hoạt động tốt. những thay đổi về thị trường và cạnh tranh.Porter, What is Strategy?, Havard Business Review,Nov-Dec 1996. Qua so sánh trên, Porter cho rằng chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa các hoạt động của một công ty.
Nếu không có sự phù hợp này thì sẽ không có những chiến lược khác biệt và khó duy trì lợi thế cạnh tranh. Qua các định nghĩa trên có thể rút ra được rằng : chiến lược của công ty là tổng thể các quyết định và hoạt động liên quan đến việc chọn lựa các phương tiện và phân bổ nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu. Trong môi trường cạnh tranh, thì mục tiêu quan trọng của công ty là đạt vị thế chiến lược tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh. Để đạt được điều này công ty phải tạo ra sự phù hợp của toàn bộ hoạt động nhằm tạo dựng và duy trì được lợi thế cạnh tranh trong lâu dài.Phân loại chiến lược công ty Do có nhiều khái niệm chiến lược khác nhau, nên việc phân loại chiến lược cũng có nhiều cách khác nhau dựa trên những tiêu thức khách nhau: Một là theo cơ cấu tổ chức công ty.
Có ba loại: 2 • Chiến lược kinh doanh (còn gọi là các chiến lược chức năng). Chiến lược này được xây dựng để xác định những năng lực riêng biệt và lợi thế cạnh tranh của công ty trước các đối thủ cạnh tranh trong cùng một ngành, cùng một nhóm sản phẩm/thị trường. • Chiến lược công ty. Chiến lược này được xây dựng để chọn lựa, đánh giá, phát triển/rút khỏi một nhóm các đơn vị kinh doanh khác nhau.
Về mức độ, chiến lược công ty rộng hơn chiến lược kinh doanh. • Chiến lược tổng hợp. Chiến lược này được xây dựng bởi các hoạt động của công ty và sự trao đổi các hoạt động này với môi trường bên ngoài nhằm mục đích khống chế thị trường hoặc làm thay đổi kết quả của môi trường thông qua mạng lưới các tổ chức mà công ty có tham gia vào [Fombrun and et al,1983, tr. Hai là theo quá trình.
Có hai loại chiến lược: • Chiến lược dự định: là bộ tài liệu chứa đựng các thông tin về những điều mà tổ chức muốn thực hiện để đạt tới các mục tiêu đã đề ra [Lam,1998,tr. Thông thường các chiến lược dự định bao gồm các kế hoạch và các chính sách. • Chiến lược được thực hiện là chiến lược dự định được hiện thực hóa trong hoạt động của công ty. Những chiến lược dự định không được tổ chức thực hiện sẽ được gọi là chiến lược không được thực hiện [Lam,1998,tr.
Trong quá trình chuyển tiếp giữa chiến lược dự định và chiến lược thực hiện, sẽ có một số chiến lược mới nổi lên do điều kiện môi trường thay đổi, được gọi là chiến lược nổi lên. Ba là theo cách chọn chiến lược. Có hai loại sau: • Chiến lược mang tính chủ động. Những chiến lược có thể giúp công ty giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh thông qua vị trí dẫn đầu trong thị trường.
• Chiến lược mang tính thụ động. Những chiến lược theo sau so với những công ty dẫn đầu trên thị trường.2: Những điểm chung của chiến lược chủ động và thụ động Chiến lược mang tính chủ động Chiến lược mang tính thụ động .Sáp nhập hàng ngang .Rút khỏi lĩnh vực kinh doanh .Phát triển thị trường .Mua công nghệ .Đa dạng hóa thị trường .Thuê lực lượng lao động .Phát triển lĩnh vực kinh doanh mới .Phát triển sản phẩm mới .Mở rộng chuyền sản xuất .Đa dạng hóa sản phẩm .Thay đổi/chỉnh sửa sản phẩm .Tự động hóa sản xuất .Nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ .Đào tạo nhân viên .Phát triển lĩnh vực kinh doanh liên quan .Đầu tư vào hoạt động R&D .Đầu tư chọn lọc .Sáp nhập hàng dọc. Nguồn : Pun and et al, Determiants of manufacturing strategy formulations: a longtitudinal study in Hong Kong, Technovation,Vol 24 No.2 Vậy có nhiều cách phân loại chiến lược công ty tùy theo cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu và nhà thực hành. Các cách phân loại này chỉ mang tính tương đối và bổ sung cho nhau.
Trong thực tế, lằn ranh giữa các loại chiến lược được phân loại hầu như rất mờ nhạt.Các yếu tố ảnh hưởng đến chiến lược công ty. Là những yếu tố tác động đến quá trình quản trị chiến lược công ty, gồm quá trình lên kế hoạch chiến lược, triển khai chiến lược, quá trình kiểm soát và điều chỉnh chiến lược. Theo đó, các yếu tố này có thể chia làm 2 nhóm : các yếu tố môi trường bên ngoài và bên trong công ty.Môi trường bên ngoài Đây là nhóm các yếu tố tạo nên những cơ hội và những mối đe dọa mà công ty gặp phải trong điều kiện cạnh tranh. Các yếu tố của môi trường bên ngoài công ty được phân thành hai nhóm lớn gồm môi trường vĩ mô và môi trường vi mô.
Môi trường vĩ mô: bao gồm các yếu tố xuất phát từ bên ngoài công ty và có tác động đến hoạt động của hầu hết công ty. Các yếu tố trong môi trường chung 4 thường là : (1) yếu tố kinh tế, (2) yếu tố xã hội, (3) yếu tố chính trị-pháp luật, (4) yếu tố công nghệ, (5) yếu tố sinh thái-kinh tế *Yếu tố kinh tế: đề cập đến bản chất và hướng phát triển của một nền kinh tế mà công ty đó đang hoạt động. Trên thực tế, các công ty thường chú ý đến yếu tố kinh tế này qua các biến số kinh tế như : xu hướng tăng trưởng tổng sản phẩm quốc dân, tỷ lệ lạm phát, lãi suất cơ bản, mức độ sẵn sàng của hệ thống tín dụng, mức độ thu nhập khả dụng và khuynh hướng tiêu dùng của người dân. *Yếu tố xã hội: đề cập đến niềm tin, giá trị, thái độ, quan điểm và phong cách sống của người dân trong xã hội mà công ty đang hoạt động.
*Yếu tố pháp luật-chính trị: trong quá trình xây dựng chiến lược, các công ty thường đánh giá tính định hướng và sự ổn định của hệ thống pháp luật-chính trị mà công ty đang hoạt động. Các yếu tố này thường gồm những quy định mà công ty phải tuân theo như công bằng thương mại, cấm độc quyền, chương trình thuế, mức lương tối thiểu, quy định về môi trường, giá cả và một số quy định nhằm bảo vệ người lao động, người tiêu dùng, công chúng và môi trường. *Yếu tố công nghệ: sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ có thể ảnh hưởng rất lớn đến ngành mà công ty đang hoạt động. Các công nghệ có thể đem đến những khả năng tạo ra các sản phẩm mới, hoặc là cải tiến sản phẩm hiện hữu.
Riêng đối với các công nghệ mang tính đột phá có thể cho phép công ty tạo ra một thị trường mới hoặc rút ngắn vòng đời của các thiết bị sản xuất. *Yếu tố sinh thái-kinh tế: thể hiện mối quan hệ tương tác giữa môi trường sinh thái và kinh doanh. Môi trường sinh thái được định nghĩa là tổng hợp các mối quan hệ giữa loài người, và loài vật cùng với không khí, đất và nước đóng vai trò hỗ trợ sự sống. Ngày nay các công ty cần phải xem đây là một yếu tố bên ngoài mà có ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của mình.
Các vấn đề về sinh thái gồm sự nóng lên của trái đất, mất đi sự đa dạng sinh học, cũng như ô nhiễm đất, nước và không khí. Môi trường vi mô: Môi trường vi mô đã được giáo sư của trường Havard là Michael E. Porter đề xuất và trở thành phổ biến đối với các nhà hoạch định chiến 5 lược công ty. Porter có năm yếu tố để tạo nên sự cạnh tranh trong cùng một ngành.
Các yếu tố này là sự xuất hiện của đối thủ mới, sức mạnh của nhà cung cấp, sức mạnh của khách hàng, sự xuất hiện sản phẩm thay thế, và các đối thủ cạnh tranh trong ngành. *Sự xuất hiện đối thủ mới: các đối thủ mới khi thâm nhập thị trường thường tạo ra những khả năng cạnh tranh mới thông qua việc giành thị phần hiện có.