Chương 1: Giới thiệu, trong chương này đề tài sẽ nêu ra cơ sở cho việc chọn đề tài, tóm lượt phương pháp nghiên cứu, đóng góp của đề tài và bố cục của đề tài. 4 Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây, trong chương này đề tài sẽ tập trung nêu lên kết quả của các nghiên cứu trước đây có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, trong chương này đề tài nêu ra cơ sở dữ liệu để thực hiện nghiên cứu, cách đo lường các biến, mô hình nghiên cứu và các giả thiết nghiên cứu của đề tài. Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả nghiên cứu, trong chương này đề tài thực hiện phân tích dữ liệu nghiên cứu và kiểm định các giả thiết nghiên cứu được nêu ra trong chương 3.
Chương 5: Kết luận, trong chương này đề tài nêu tóm tắt lại các vấn đề nghiên cứu và các kết quả nghiên cứu chính của đề tài, những hạn chế mà đề tài chưa thực hiện được và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Tóm lại, trong chương này đề tài đã nêu lý do của việc thực hiện đề tài, vấn đề nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu của đề tài làm tiền đề cho các chương tiếp theo trong nghiên cứu của đề tài. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Quản trị vốn luân chuyển với mục tiêu chính là đảm bảo đủ dòng tiền để doanh nghiệp hoạt động bình thường mà vẫn đảm bảo khả năng thanh khoản. Vì vây, quản trị vốn luân chuyển hiệu quả chính là xem xét sự cân bằng của thanh khoản và lợi nhuận.
Một trong những chỉ tiêu xem xét quan trọng của việc quản trị vốn luân chuyển hiệu quả chính là chỉ tiêu chu kỳ luân chuyển tiền (CCC – Cash conversion cycle) bằng cách thông qua các thành phần của nó gồm: số ngày tồn kho, số ngày phải thu, số ngày phải trả. Các doanh nghiệp có chu kỳ luân chuyển tiền ngắn sẽ có lợi hơn và tạo ra nhiều giá trị hơn. Có nhiều cách khác nhau để đánh giá hiệu quả của việc quản lý vốn luân chuyển. Chẳng hạn như tính tỷ số thanh toán hiện hành (current ratio), hay chỉ số thanh toán nhanh (quick ratio), chỉ số thanh toán tiền mặt (cash ratio).
Một cách khác để đánh giá hiệu quả của việc quản lý vốn luân chuyển được đề cập bởi Richards và Laughlin (1980) theo đó vòng quay của tiền được xác định bằng kỳ thu tiền bình quân cộng số ngày vòng quay hàng tồn kho và trừ kỳ thanh toán bình quân. Chu kỳ này dường như là một đánh giá tốt hơn trong việc xem xét việc quản lý vốn luân chuyển bởi vì nó cho thấy các thành phần quan trọng có liên quan đến vốn luân chuyển. Vòng quay của tiền cho thấy số ngày từ ngày công ty trả tiền cho nhà cung cấp cho đến ngày công ty thu được tiền từ khách hàng. Những nhà quản lý phải đảm bảo rằng con số này là thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh và trung bình ngành.
Việc quản lý tốt vòng quay của tiền sẽ tác động đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp và từ đó tác động đến giá trị doanh nghiệp.1 Tác động của quản trị vốn luân chuyển đến lợi nhuận Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu cũng như thực hiện các nghiên cứu về tác động của quản trị vốn luân chuyển đến lợi nhuận của doanh nghiệp trong những môi trường kinh tế khác nhau. Mỗi nghiên cứu tại mỗi quốc gia cho kết luận khác nhau về mối tương quan giữa quản trị vốn luân chuyển và lợi nhuận. Tuy nhiên, hầu hết các kết quả nghiên cứu đều cho thấy giữa quản trị vốn luân chuyển hiệu quả và lợi nhuận có mối tương quan dương thể hiện qua các chỉ số đại diện quản trị vốn luân chuyển như: kỳ thu tiền bình quân, số ngày vòng quay hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân, chu kỳ luân chuyển tiền lần lượt tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Sartoris và Hill (1983), Kim và Chung (1990) đã nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng của chính sách quản trị tín dụng ngắn hạn và quản trị hàng tồn kho đến giá trị công ty.
Các mô hình tổng hợp nhấn mạnh tầm quan trọng của tăng trưởng doanh thu và quyết định tài trợ ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và giá trị doanh nghiệp: NPVt = [ PP + PD + PC]St Trong đó: PP = Cpe-rtp, PD = (1-d)qe-rtd, PC = (1-q)(1-b)e-rtc và Cp đại diện tiền mặt chi trả cho sản xuất, d đại diện cho chiết khấu trong doanh thu, q đại diện cho phần doanh thu dựa vào tín dụng, b đại diện cho tỷ lệ doanh thu tín dụng xấu, St đại diện doanh thu ở thời điểm t, r đại diện cho tỷ lệ chiết khấu, và tp, td, tc đại diện cho thời gian thanh toán tiền mặt. Với biểu thức này, Sartoris và Hill sau đó trình bày ảnh hưởng giá trị doanh nghiệp như sau: ∫( ) ( ) trong đó N đại diện cho phạm vi thời gian và ( ) đại diện cho hàm số mô tả thời gian của doanh thu. Công thức này làm sáng tỏ vấn đề cả tăng trưởng doanh 7 thu và chi phí cơ hội của tài trợ đóng vai trò quyết định trong việc đánh giá ảnh hưởng của chính sách tín dụng và quản trị hàng tồn kho đến giá trị công ty. Một bằng chứng cho thấy tầm quan trọng của quản trị vốn luân chuyển được phát hiện bởi Shin và Soenen (1998) họ cho rằng mặc dù Kmart và Walmart có cấu trúc vốn tương tự nhau trong năm 1994 nhưng Kmart đã bị phá sản vì hiệu quả quản trị vốn luân chuyển yếu kém, Kmart đã có chu kỳ chuyển đổi tiền mặt khoảng 61 ngày trong khi Walmart chỉ có 40 ngày, kết quả là Kmart phải đối mặt với 193,3 tỷ đôla chi phí tài trợ mỗi năm.
Cũng trong nghiên cứu của mình, Shin và Soenen cho rằng có tồn tại mối liên hệ giữa các cách ước tính lợi nhuận khác nhau và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt, đo lường hiệu quả của quản trị vốn luân chuyển trong công ty. Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy mối liên hệ nghịch giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và lợi nhuận của các công ty Mỹ trong giai đoạn 1975-1994. Nghiên cứu của Shin và Soenen tuy không cung cấp các bằng chứng trực tiếp nhưng đã hàm ý rằng các công ty quản trị vốn luân chuyển càng hiệu quả thì dòng tiền hoạt động và giá trị công ty càng cao. Tuy nhiên, các công ty có chu kỳ chuyển đổi tiền mặt dài vẫn đầu tư vào các tài sản ngắn hạn để đảm bảo việc chi trả trong giai đoạn kinh doanh tiếp theo.
Thế nhưng bằng chứng nghiên cứu vẫn chưa nói lên được thị trường đánh giá việc đầu tư tăng thêm vào vốn luân chuyển của các công ty như thế nào. Vì vậy, câu hỏi đặt ra là các công ty đầu tư quá nhiều vào vốn luân chuyển thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi và giá trị công ty ra sao thì vẫn chưa có câu trả lời. Deloof (2003) thì cho rằng phần lớn các doanh nghiệp có một khoản tiền lớn được đầu tư trong vốn luân chuyển. Điều đó cũng đồng nghĩa rằng việc quản trị vốn luân chuyển có tác động đến lợi nhuận của chính doanh nghiệp đó.
Tác giả sử dụng kiểm định tương quan và kiểm định hồi quy và tác giả tìm thấy được mối tương quan âm giữa doanh thu và kỳ thu tiền bình quân, hàng tồn kho và khoản phải trả của các doanh nghiệp Belgian. Dựa trên những kết quả nghiên cứu tìm được, tác giả đề nghị các nhà quản lý nên tăng giá trị cho cổ đông bằng 8 cách giảm kỳ thu tiền bình quân và hàng tồn kho đến một mức nhỏ nhất có thể chấp nhận được. Eljelly (2004) tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa thanh khoản và lợi nhuận sau khi giải thích rằng việc quản trị thanh khoản hiệu quả là bao gồm hoạch định và kiểm soát tài sản lưu động và nợ ngắn hạn sao cho đảm bảo trách nhiệm trong ngắn hạn và tránh việc đầu tư thái quá đối với những tài sản này. Tác giả sử dụng tỷ số thanh toán hiện hành và chu kỳ tiền mặt trên các công ty cổ phần ở Saudi Arabia.
Kết quả nghiên cứu cho thấy chu kỳ tiền mặt là một trong những thước đo thanh khoản quan trọng (hơn cả tỷ số thanh toán hiện hành) tác động đến lợi nhuận. Biến qui mô cũng được tìm thấy có tác động đến lợi nhuận trong mỗi ngành công nghiệp. Kết quả này ổn định và có ý nghĩa quan trọng tác động đến việc quản trị thanh khoản tại các công ty Saudi. Kesseven Padachi (2006), đã tiến hành nghiên cứu kiểm tra xu hướng trong việc quản trị vốn luân chuyển lên thành quả của doanh nghiệp với mẫu gồm 58 doanh nghiệp nhỏ, sử dụng phân tích dữ liệu mảng từ 1998 đến 2003.
Biến phụ thuộc: tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA). Các biến độc lập gồm: số ngày vòng quay hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân, kỳ thanh toán bình quân và chu kỳ luân chuyển tiền. Kết quả hồi qui đã chỉ ra rằng một sự đầu tư lớn trong hàng tồn kho và khoản phải thu thì đi kèm với lợi nhuận thấp. Có mối tương quan có ý nghĩa (mạnh) giữa quản trị vốn luân chuyển và lợi nhuận được kiểm định trong các bài nghiên cứu trước.
Cụ thể, có mối tương quan âm giữa kỳ thu tiền bình quân, kỳ thanh toán bình quân và chu kỳ luân chuyển tiền đối với lợi nhuận của một doanh nghiệp, trong khi đó đối với số ngày vòng quay hàng tồn kho thì không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa nào đối với lợi nhuận. Một phân tích về thanh khoản, lợi nhuận và hiệu quả hoạt động của năm nhóm ngành công nghiệp đã chỉ ra những thay đổi có ý nghĩa và cách tốt nhất để giúp ngành công nghiệp giấy gia tăng thành quả. Các kết quả được tìm thấy đã góp phần làm gia tăng các thành phần ngắn hạn trong vốn luân chuyển. 9 Lazaridis I, Tryfonidis D (2006) tiến hành nghiên cứu về mối quan hệ giữa lợi nhuận của doanh nghiệp và quản trị vốn luân chuyển với mẫu gồm 131 công ty trên thị trường chứng khoán Athens (ASE) từ năm 2001 – 2004.
Kết quả chỉ ra rằng có mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa lợi nhuận của doanh nghiệp và chu kỳ luân chuyển tiền, và đó là tương quan âm. Các tác giả thấy rằng, một sự gia tăng trong kỳ thanh toán bình quân thường đi kèm với sự sụt giảm trong lợi nhuận hoạt động.