Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Xây dựng và khảo sát bộ tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV tại Trường ĐHKHTN. Chương 3: Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động QLCTSV của Trường ĐHKHTN. Kết luận và kiến nghị (3 trang) Tài liệu tham khảo (5 trang) Phụ lục (9 trang) 13 PHẦN II: NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU: 1.
Các nghiên cứu trên thế giới: Hiện nay, tình hình giáo dục đại học đang đặt ra đối với CTSV rất nhiều thử thách, đó là những công nghệ mới, làm thay đổi số lượng SV, yêu cầu tính minh bạch cao hơn, kéo theo chi phí cho giáo dục đại học tăng lên, việc đánh giá của người học và đạo đức tại trường đại học cũng tăng lên. Các trường đại học cũng chịu ảnh hưởng bởi các vấn đề chính trị, xã hội bao gồm cả văn hóa, đạo đức và sự công bằng. Phản ứng của chúng ta với các thử thách đó sẽ hình thành nên vai trò của chúng ra trong giáo dục đại học. Các nhà giáo dục đại học cũng đã nhận ra những thử thách này và đã có hành động nhằm tập trung vào “chức năng cốt lõi của cơ sở đào tạo, đó là tập trung chính vào việc học” (Wingspread Group 1993).
Tập trung vào việc học tập của SV hơn là tập trung vào việc giảng dạy là một sự thay đổi cơ bản trong quan điểm giáo dục. Nếu mục đích của giáo dục là học tập, thì hiệu quả được đo lường bằng kết quả và lợi ích giáo dục cụ thể chứ không phải tính theo số lượng máy tính, giáo trình, giảng viên, hay nguồn lực tài chính của cơ sở đào tạo. Tạo môi trường và kinh nghiệm học tập luôn là nhiệm vụ hàng đầu của CTSV. The Student Learning Imperative – (tên thường gọi của Hiệp hội các trường đại học Hoa Kỳ) - đã yêu cầu các trường đại học coi những thử thách này là một cơ hội để khẳng định về chất lượng giáo dục và phát triển SV.
Với nhận định như trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề chất lượng giáo dục và chất lượng giáo dục đại học. Nhiều nước trên thế giới đã cố gắng xây dựng hệ thống đánh giá và cơ chế bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Và theo đó đã có những bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng trường đại học. 14 Từ năm 1937, khi Hội đồng Giáo dục Hoa Kỳ xuất bản cuốn “Quan điểm về công tác QLSV” đầu tiên, thì sau đó đã có nhiều tài liệu bàn luận về CTSV.
Trải qua một thời gian dài, những công trình nghiên cứu khác nhau với nhiều mục đích khác nhau đều đã được thực hiện. Tất cả những nghiên cứu này đều khẳng định rằng giáo dục đại học có trách nhiệm phát triển năng lực công dân và đóng góp vào sự tiến bộ xã hội. Những kết quả nghiên cứu cũng khẳng định rằng giáo dục đại học giúp SV phát triển đầy đủ về năng lực tiềm ẩn của họ. Giáo dục đại học là nền tảng cho những cam kết phát triển con người toàn diện.
Giá trị xuyên suốt lịch sử hoạt động CTSV bao gồm cả việc chấp nhận và trân trọng những khác biệt cá nhân, học tập suốt đời, giáo dục công dân hiệu quả, trách nhiệm SV, đánh giá tiến triển của việc học và thể hiện (của SV và chính người làm CTSV); tính đa thuyết và đa văn hóa; đạo đức và các hoạt động phản ứng linh hoạt trong CTSV; sự hỗ trợ và đáp ứng các nhu cầu của cá nhân SV cũng như các nhóm SV; sự tự do ngôn luận công dân. Hoạt động SV phải được xem xét trong những phạm vi, bối cảnh cụ thể ảnh hưởng tới nền giáo dục đại học và nhiệm vụ của nó. Những điều kiện đó nhấn mạnh sự cần thiết phải có hiểu biết về hoạt động QLCTSV thông qua các nghiên cứu và tài liệu đã có. Không chỉ nghiên cứu về việc dạy và học mà còn liên quan tới hầu hết các vấn đề cấp bách nhất mà SV và gia đình họ đang phải đối mặt.
Phạm vi của đơn vị đào tạo ảnh hưởng tới việc các nguyên tắc trong CTSV được áp dụng như thế nào, đến mức độ nào. Những phạm vi như vậy trong giáo dục đại học bao gồm: sứ mệnh giáo dục, mục tiêu giáo dục, số lượng SV. Khi nhận thức rõ mục tiêu của đơn vị đào tạo, bộ phận CTSV sẽ chịu trách nhiệm quản lý các nguồn lực sao cho hiệu quả nhằm phát triển mục tiêu, sứ mệnh của đơn vị. Vào năm 1986, trong báo cáo phê bình về giáo dục đại học, quỹ Lilly Endowment và quỹ Johnson đã xác định hướng tiếp cận hiệu quả nhất với giáo dục đại học.
Từ thảo luận đó, Chickering và Gamson (1987) đã triển khai 7 nguyên tắc cơ bản của hoạt động giáo dục đại học: (1) mối liên hệ giữa SV và giảng viên, nhà trường, (2) hợp tác giữa SV với nhau, (3) học tập tích cực, (4) thông tin phản hồi 15 kịp thời, (5) giao nhiệm vụ có thời hạn, (6) đặt hi vọng cao và (7) tôn trọng mọi tài năng và các phương pháp học tập. Những nguyên tắc này tạo thành một quy tắc ngắn gọn về các hoạt động liên quan tới giáo dục đại học chất lượng cao mà giảng viên, người học, công chúng cũng có thể hiểu và sử dụng. Tuy nhiên, CTSV thiếu một văn bản mang tính đo lường, so sánh, đánh giá về chất lượng của hoạt động này. Năm 1996, Paul Oliaro - chủ tịch Hiệp hội các trường đại học Hoa Kỳ - ACPA (the American College Personnel Association) và Suzanne Gordon – Chủ tịch Hiệp hội Quốc gia quản trị SV - NASPA (the National Association of Student Personnel Administrators) đã phối hợp xuất bản cuốn “Principles of Good Practice for Student Affairs” – xây dựng một bộ nguyên tắc đánh giá cho hoạt động CTSV.
Tài liệu này cũng tương tự như của Chickering và Gamson (1987) đã xuất bản, đều có điểm chung trong việc học tập của SV, nhưng phạm vi và đối tượng sử dụng, áp dụng là khác nhau. Những nguyên tắc này được hình thành dựa trên những nghiên cứu về SV, kinh nghiệm của những cơ sở giáo dục có hiệu quả và những cam kết về CTSV với SV và việc học tập của họ. Theo“Principles of Good Practice for Student Affairs” để đánh giá, đo lường chất lượng CTSV của một cơ sở đào tạo phải đánh giá chất lượng thực thực hiện tốt các nội dung sau: (1) Thu hút SV vào các hoạt động học tập tích cực; (2) Giúp SV phát triển các giá trị và chuẩn mực đạo đức lành mạnh; (3) Truyền đạt được ý nghĩa đối với việc học tập; (4) Sử dụng điều tra có hệ thống để nâng cao chất lượng của SV cũng như thành tựu của trường đại học; (5) Sử dụng các nguồn lực một cách hiệu quả để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ của trường học; (6) Xây dựng các mối quan hệ đối tác trong giáo dục nhằm nâng cao việc học của SV; (7) Xây dựng sự hỗ trợ toàn diện của cộng đồng. Gần đây, trong “Kế hoạch đánh giá CTSV” giai đoạn 2010-2015 của Schenectady County Community College, Mỹ đã đưa ra khá chi tiết các bước đánh giá, trong đó có cả sơ sở lý luận và thực tiễn.
16 Theo kế hoạch này, đánh giá là một quá trình thu thập, phân tích và sử dụng thông tin về tính hiệu quả của chương trình, phòng ban và bộ phận liên quan một cách hệ thống nhằm cải thiện việc học tập của SV (Uperaft & Schuh, 1996; Anderson, Bresciani & ZElna, 2004). Định nghĩa này bao quát toàn bộ khía cạnh và mục đích của đánh giá cho bộ phận CTSV. Tuy nhiên không dễ dàng để truyền tải rõ ràng và đầy đủ định nghĩa của đánh giá cho tất cả thành viên của bộ phận CTSV, kế hoạch đã cụ thể hóa bằng sự đa dạng trong phạm vi, bối cảnh, chức năng công việc và ý nghĩa của việc đánh giá. Tài liệu này đã đưa ra quá trình đánh giá và đo lường theo Bresciani, Ewwell (2003); Palomba và Banta (1999); Sanderson (2007).
Theo Bresciani, quá trình đánh giá được thực hiện theo các bước: (1) Xác định rõ mục đích, nhiệm vụ và kết quả; (2) Xác định phương pháp thực hiện để đem lại kết quả; (3) Xác định phương pháp thu thập minh chứng, số liệu; (4) Phân tích, diễn giải minh chứng, số liệu; (5) Sử dụng minh chứng đánh giá kết quả; (6) Lặp lại quá trình đánh giá. Theo cách của Palomba và Banta đã đưa ra hai loại minh chứng cơ bản của việc học tập: (1) Phương pháp trực tiếp thu thập thông tin yêu cầu SV trình bày hiểu biết và kỹ năng của mình. (2) Phương pháp gián tiếp yêu cầu SV hoặc cá nhân khác phản ánh tình hình học tập của SV chứ không phải để chứng minh kết quả học tập của mình. Theo Ewwell, thì kỹ thuật đánh giá xảy ra tự nhiên (phương pháp đánh giá được thực hiện thông qua bài luận; quan sát thái độ được; tiếp xúc trao đổi SV; tranh luận, thảo luận của SV) và kỹ thuật đánh giá được thiết kế nhằm cung cấp phương tiện đánh giá (như khảo sát và phỏng vấn).
Sanderson (2007) đề xuất logic việc đánh giá, đề xuất này có thể hướng dẫn việc đánh giá CTSV trong đó chú trọng các yếu tố sau: Sứ mệnh: Là nhiệm vụ xuyên suốt cơ sở đào tạo được chính phủ, xã hội và cộng đồng giao phó. Nó chi phối nhiệm vụ của các bộ phận liên quan và SV. Mục tiêu: Bao gồm toàn bộ những nội dung mà bộ phận CTSV muốn các thành viên tham gia đặt ra để thực hiện sứ mệnh. Thông thường chỉ có từ 4-6 mục tiêu cho một bộ phận.
17 Chƣơng trình và dịch vụ: Tập hợp các hoạt động liên quan và kết quả đạt được, trong đó chú trọng tới việc tỷ lệ sử dụng có ý nghĩa các nguồn lực của cơ sở đào tạo hoặc của bộ phận CTSV (nhân sự, tài chính, thời gian,v. Chương trình và dịch vụ được thiết kế để hỗ trợ các mục tiêu của bộ phận Sơ đồ được đưa ra như dưới đây: SỨ MỆNH MỤC TIÊU CÁC CHƢƠNG TRÌNH VÀ DỊCH VỤ ĐẦU VÀO CÁC HOẠT KẾT QUẢ KẾT QUẢ ĐỘNG DỊCH VỤ HỌC TẬP - Các nguồn Các hoạt động - Các sản Các lợi ích đầu vào được được thực phẩm từ các cho người dành riêng hiện để cung hoạt động ví tham gia.