CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG BỘ CÂU HỎI TNKQ SỬ DỤNG TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ 1. Cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá 1. Các khái niệm cơ bản về kiểm tra, đánh giá - Kiểm tra: Kiểm tra (KT) trong dạy học là hoạt động nhằm lấy dữ kiện, thông tin về trình độ, khả năng của HS (có thể là trước hoặc sau khi dạy học) để làm cơ sở cho việc đánh giá.
Trong lí luận dạy học (DH), quan niệm KT là giai đoạn kết thúc của quá trình dạy học đảm nhận một chức năng lí luận DH cơ bản, chủ yếu không thể thiếu được của quá trình DH. Chức năng này gồm ba chức năng bộ phận, liên kết thống nhất với nhau, đó là: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh. KT bao gồm việc xác định điều cần KT, công cụ phương tiện KT và sử dụng kết quả KT (tức đánh giá). KT là để đánh giá (ĐG).
Hoặc khi nói đến ĐG thì phải bao hàm cả KT. Do đó thuật ngữ KT – ĐG luôn được viết liền. KT và ĐG có mối quan hệ tương hỗ và thúc đẩy lẫn nhau. - Đánh giá: + Theo định nghĩa của Robert F.Mager: “Đánh giá là việc miêu tả tình hình của HS và GV để dự đoán công việc phải tiếp tục làm để giúp HS tiến bộ”.
+ Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của GV và nhà trường, cho bản thân HS để học tập ngày một tiến bộ hơn. Những tiêu chí trong việc kiểm tra, đánh giá Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập chỉ có tác dụng tích cực nếu các công cụ kiểm tra, đánh giá bảo đảm được một số tiêu chí nhất định. Sau đây là những tiêu chí chính: - Tính toàn diện: Tiêu chí này yêu cầu các đề kiểm tra phải thể hiện được một cách toàn diện các mục tiêu đã được xác định trong chương trình các môn Trang 4 học. Các đề kiểm tra cũng như thi tốt nghiệp trước đây được biên soạn theo hình thức tự luận thường không bảo đảm được tiêu chí này, vì chỉ có thể bao gồm một số ít câu thuộc một số nội dung của chương trình môn học.
- Tính khách quan: Tiêu chí này đảm bảo kết quả đánh giá không phụ thuộc vào chủ quan của người đánh giá cũng như điều kiện đánh giá. Một đề kiểm tra có tính khách quan nếu: + Dùng cho các đối tượng khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau đều cho cùng một kết quả hoặc chỉ sai khác trong phạm vi sai số cho phép. + Các GV chấm cùng một bài phải cho điểm như nhau hoặc chỉ sai khác trong phạm vi sai số cho phép. - Độ tin cậy: Một đề kiểm tra được coi là có độ tin cậy nếu: + Kết quả làm bài phản ánh đúng trình độ người học và đúng mục đích đánh giá.
+ HS không thể hiểu theo các cách khác nhau. - Tính khả thi: Nội dung, hình thức và phương tiện tổ chức phải phù hợp với điều kiện của HS, của nhà trường và nhất là phù hợp với mục tiêu giáo dục của từng môn học. - Khả năng phân loại tích cực: HS có năng lực cao hơn phải có kết quả cao hơn một cách rõ rệt. Bài phản ánh được rõ ràng và càng nhiều trình độ của HS càng tốt.
- Tính giá trị: Một bài kiểm tra chỉ có giá trị khi đánh giá được HS về lĩnh vực cần đánh giá, đo được cái cần đo, thực hiện được đầy đủ các mục tiêu đặt ra cho bài kiểm tra. Trong mỗi môn học có thể có nhiều loại nội dung khác nhau. Khi đánh giá kết quả học tập môn học đó phải tập trung phản ánh được kết quả học tập các nội dung chủ chốt, trọng tâm, cơ bản nhất. Lĩnh vực kiểm tra, đánh giá Trong chương trình giáo dục của nước ta các mục tiêu giáo dục cũng được phân thành ba lĩnh vực, tương ứng với ba lĩnh vực của Bloom, cụ thể là: kiến thức, kĩ năng và thái độ.
Đó cũng chính là ba lĩnh vực của đánh giá giáo dục ở Trang 5 nước ta. Thực ra rất khó tách biệt ba lĩnh vực trên, đặc biệt là rất khó tách biệt kiến thức và kỹ năng, vì một kỹ năng thành thạo bao giờ cũng dựa trên một cơ sở kiến thức nào đó, nhất là những kỹ năng được hình thành trong quá trình giáo dục. Vì vây, Bloom cùng các cộng sự của ông cũng quy định mức độ của các mục tiêu GD , trong đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức từ đơn giản đến phức tạp như sau: - Nhận biết (Knowledge), còn được gọi tắt là “Biết”. Nhận biết được coi khả năng có thể nhớ hoặc nhận ra một sự vật, hiện tượng… dựa trên những thông tin có tính đặc thù của chúng.
- Thông hiểu (Comprehesion), còn được gọi tắt là “Hiểu”. Được coi là khả năng nắm được ý nghĩa, giải thích tài liệu (nêu được ý nghĩa, tư tưởng cơ bản, các quan hệ…) và khả năng ngoại suy (rút ra kết luận, dự báo hệ quả, dự báo xu hướng tương lai…). Đây là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật, hiện tượng… - Vận dụng (Application). Được coi là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một tình hướng mới.
Điều đó có thể bao gồm việc áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật, công thức… để giải quyết một vấn đề của học tập hoặc thực tiễn. Đây là mức độ thấu hiểu cao hơn mức độ thông hiểu trình bày ở trên. - Phân tích (Analysis): Chia thông tin thành các phần thông tin nhỏ sao cho có thể hiểu được cấu trúc, tổ chức của nó và thiết lập mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng. - Tổng hợp (Synthesis): Sắp xếp, thiết kế lại thông tin, các bộ phận từ các nguồn tài liệu khác nhau và trên cơ sở đó tạo nên một hình mẫu mới.
Ý nghĩa việc kiểm tra, đánh giá Kiểm tra, đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, giáo viên và đặc biệt là đối với cán bộ quản lý. Đối với học sinh: việc đánh giá có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thời những thông tin “liên hệ ngược” giúp người học điều chỉnh hoạt động học. Trang 6 - Về mặt phát triển năng lực nhận thức: giúp HS có điều kiện tiến hành các hoạt động trí tuệ như ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa các kiến thức, tạo điều kiện cho HS phát triển tư duy, sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức để giải quyết các tình huống thực tế. - Về mặt giáo dục: HS có tinh thần trách nhiệm cao hơn trong học tập, có ý chí vươn lên đạt những kết quả cao hơn, cũng cố lòng tin vào khả năng của mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan, tự mãn.
Đối với GV: Cung cấp cho GV những thông tin “liên hệ ngược ngoài” giúp người dạy điều chỉnh hoạt động dạy. Đối với cán bộ quản lý GD: Cung cấp cho cán bộ quản lý GD những thông tin về thực trạng dạy và học trong một đơn vị GD để có những chỉ đạo kịp thời, uốn nắn được những lệch lạc, khuyến khích, hỗ trợ những sáng kiến hay, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu GD. Cơ sở lý luận xây dựng câu hỏi TNKQ 1. Khái niệm cơ bản về câu hỏi TNKQ Trắc nghiệm (test) theo nghĩa rộng là phép lượng giá cụ thể mức độ, khả năng thể hiện hành vi trong một lĩnh vực nào đó của một cá nhân nào đó.
Trong dạy học, trắc nghiệm được coi là công cụ để đánh giá kết quả học tập của HS so với các mục tiêu và chuẩn mực giáo dục. Có nhiều cách phân loại trắc nghiệm dựa trên những cơ sở khác nhau. Căn cứ vào dạng thức của trắc nghiệm viết người ta phân thành TNTL (essay test) và TNKQ (objective test) Trong đó, TNKQ là loại hình câu hỏi, bài tập mà các phương án trả lời đã có sẵn, hoặc nếu HS tự viết câu trả lời thì câu trả lời phải là câu ngắn và chỉ duy nhất có một cách viết đúng. Trắc nghiệm này được gọi là “khách quan” vì tiêu chí đánh giá là đơn nhất, hoàn toàn không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người chấm.
Phân loại câu hỏi TNKQ TRẮC NGHIỆM Quan sát Viết Vấn đáp Thực hành Trả lời dài (Tự luận) Trả lời ngắn (TNKQ) Tiểu luận Tự diễn đạt Tóm tắt Đoạn Đúng/sai Điền khuyết Ghép đôi MCQ Liên kết Loại đúng- sai Câu hỏi đúng- sai thường được sử dụng để kiểm tra khả năng của học sinh trong các tình huống trả lời “bắt buộc”: đúng- sai; có- không; chính xác- không chính xác… và có một đáp án duy nhất. Thích hợp cho kiểm tra vấn đáp nhanh, thường sử dụng khi không tìm được đủ phương án nhiễu cho câu nhiều lựa chọn. - Ưu điểm: + Loại câu này rất thông dụng vì nó thích hợp với những kiến thức sự kiện, các định nghĩa, khái niệm, công thức. + Có thể đưa ra nhiều câu hỏi trong cùng một bài kiểm tra nên trắc nghiệm được một lĩnh vực rộng lớn trong thời gian ngắn.
+ Dễ áp dụng khi cần kiểm tra một số đông học sinh. + Tính khách quan trong chấm điểm. + Là cơ sở để phát triển các thiết bị chấm bài thi. - Nhược điểm: + Có thể khuyến khích sự đoán mò của học sinh.
+ Đánh giá nhầm hoặc đánh giá cao hơn học lực có thực do học sinh có Trang 8 thể “đoán” câu trả lời. + Rất khó để phân biệt giữa các câu hỏi khó và câu hỏi mang tính “cài bẫy”. + Dễ dẫn đến việc kiểm tra những kiến thức không quan trọng hay hàm chứa ít kiến thức. + Hiệu quả đánh giá khả năng suy luận thấp.
+ Trong trường hợp những kiến thức cần kiểm tra đưa ra trong câu hỏi chưa được chứng minh, loại câu hỏi kiểu này sẽ không phản ánh được sự nhận thức của học sinh. - Lưu ý: + Nên hạn chế việc dùng câu đúng- sai trong kiểm tra đánh giá. + Chỉ nên sử dụng câu đúng- sai trong trường hợp không thể tìm được đủ các phương án nhiễu hợp lý. Loại điền khuyết Hay còn gọi là điền vào chỗ trống, là một câu hỏi hay một câu phát biểu có chừa trống, thí sinh tự điền vào chỗ trống một từ hoặc một cụm từ thích hợp.