ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một quốc gia có mức độ đa dạng các loài thú linh trƣởng rất cao ở Khu vực Đông Nam Á. Sự đa dạng các loài linh trƣởng Việt Nam chỉ đứng sau Indonesia với 40 loài (Fooden, 2000). Bên cạnh đó, các loài thú linh trƣởng tại Việt Nam còn đƣợc biết đến bởi nhiều tính đặc hữu trong thành phần loài. Tuy nhiên, Việt Nam cũng là quốc gia có nhiều loài linh trƣởng đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng nhất trong khu vực Đông Nam Á.
Theo đánh giá các nhà khoa học, có 22 loài trên tổng số 25 loài thú linh trƣởng ở Việt Nam (khoảng 90%) đang bị đe dọa tuyệt chủng (Sách đỏ Việt Nam, 2007). Đặc biệt, trong sự đa dạng về tổng số thành phần loài thú linh trƣởng tại Việt Nam có các loài thú trong họ Vƣợn thuộc giống Nomascus đã đƣợc ghi nhận (Văn Ngọc Thịnh et al. Hiện nay, các loài Vƣợn ở Việt Nam có vùng phân bố rất hẹp, chỉ tập trung phân bố tại các khu rừng tự nhiên ít bị tác động yếu tố con ngƣời. Tuy nhiên, không gian sinh cảnh sống dần bị biến mất do sự chuyển đổi mục đích sử dụng đất mạnh mẽ.
Vƣợn má vàng trung bộ (Nomascus annamensis) là một trong những loài thú linh trƣởng đang bị đe dọa nghiêm trọng trên thế giới. Đến nay, đã ghi nhận đƣợc, Vƣợn đen má hung trung bộ (N. annamensis) phân bố ở Trung Bộ Việt Nam, Lào và Campuchia, vì thế có thể xem loài vƣợn này là loài đặc hữu Đông Dƣơng (Rawson et al., 2011; Traehoklt et al. Tuy nhiên, các loài Vƣợn nói chung hiện nay đang bị săn bắn mạnh mẽ làm số lƣợng loài giảm nghiêm trọng.
Số lƣợng Vƣợn ở Việt Nam đang suy giảm tại tất cả các khu vực phân bố, nơi mà trƣớc đây chúng đƣợc ghi nhận là có mặt. Các điều tra về sự phân bố của loài Vƣợn má vàng trung bộ tại KBTTN Bắc Hƣớng Hóa và ĐắkRông (tỉnh Quảng Trị), KBTTN Phong Điền, VQG Bạch Mã, KBTTN Sao La (tỉnh Thừa Thiên Huế), KBTTN Sông Thanh tỉnh Quảng Nam, VQG Chƣ Mom Ray (tỉnh Kon Tum), VQG Kon Ka Kinh (tỉnh Gia Lai). Quần thể Vƣợn má vàng trung bộ (N. annamensis) lớn nhất hiện nay đƣợc ghi nhận tại 2 khu bảo tồn thiên nhiên Đắk Rông và Phong Điền (Rawson et al.
Khu vực đƣợc biết đến có sự phân bố 1 nhiều quần thể Vƣợn má vàng trung bộ (N. annamensis) quan trọng đang sinh sống, song công tác điều tra khảo sát tại các khu vực này rất ít. Qua đó, có rất ít các hoạt động phục vụ cho công tác bảo tồn và quản lý bảo vệ loài Vƣợn này tại các khu bảo tồn trong khu vực tỉnh Quảng Nam chƣa đƣợc thực hiện. Xây dựng bản đồ vùng phân bố loài Vƣợn má vàng trung bộ (Nomascus annamensis) bằng mô hình ổ sinh thái (ENMs) là công cụ rất hiệu quả trong việc mô phỏng không gian phân bố của loài (Guisa & Thuiller, 2005; Peterson & Kluza, 2003) và để xác định đƣợc mức độ bảo tồn (Loiselle et al.
Mô hình MaxEnt là một trong những mô hình đƣợc sử dụng rộng rãi và phổ biến để đánh giá vùng phân bố tiềm năng của loài (Phillips et al, 2006). Theo Cory Merow và cs (2013) mô hình này đƣợc sử dụng rộng rãi bởi 3 lý do: MaxEnt vƣợt trội hơn các phƣơng pháp khác dựa trên dự đoán chính xác hơn. Phần mềm dễ dàng sử dụng và phù hợp với dung lƣợng mẫu nhỏ. MaxEnt là phần mềm miễn phí.
Hiện nay, các công trình nghiên cứu về loài Vƣợn má vàng trung bộ tại Việt Nam chỉ dừng lại nghiên cứu về cấu trúc kích thƣớc của quần thể và các đặc điểm sinh thái của loài. Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Sông Thanh, Ngọc Linh và một số khu bảo tồn lân cận của tỉnh Quảng Nam đƣợc biết đến là có sự xuất hiện các quần thể quan trọng sinh sống, song lại có rất ít khảo sát đƣợc thực hiện tại các khu vực này. Do đó mà có rất ít các hoạt động phục vụ công tác bảo tồn và quản lý cho các loài nguy cấp nói chung và loài Vƣợn má vàng trung bộ nói riêng ở trong và ngoài các khu vực bảo tồn tại tỉnh Quảng Nam. Sự suy giảm về chất lƣợng vùng sống và săn bắn của con ngƣời nên vùng phân bố thích hợp cho loài Vƣợn.
Chính vì vậy, luận văn đã sử dụng mô hình ổ sinh thái xác định các vùng môi trƣờng sống thích hợp loài Vƣợn má vàng trung bộ, tôi đã thực hiện đề tài “ Xây dựng bản đồ vùng phân bố thích hợp cho loài Vượn má vàng trung bộ (Nomascus annamensis) tại tỉnh Quảng Nam, phục vụ cho công tác bảo tồn”. Luận văn tập trung mô phỏng vùng phân bố thích hợp của loài Vƣợn má vàng trung bộ (Nomascus annamensis) trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Kết 2 quả điều tra nghiên cứu sẽ bổ sung thông tin khoa học về các khu vực phân bố thích hợp của loài Vƣợn. Từ đó có thể đề xuất đƣợc các biện pháp quản lý và bảo tồn các loài một cách hiệu quả.
Ngoài ra, kết quả còn đƣợc áp dụng để xây dựng hành lang bảo tồn loài trong bối cảnh biến đổi khí hậu và sự thích nghi môi trƣờng của quần thể loài Vƣợn. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân loại thú linh trƣởng tại Việt Nam Theo Phạm Nhật (2002) cho rằng thú Linh trƣởng Việt Nam bao gồm 25 loài và phân loài thuộc 3 họ; Roos (2004) cho rằng thú Linh trƣởng Việt Nam bao gồm 24 loài và phân loài thuộc 3 họ. Trong khi đó Groves (2004) chỉ ra rằng Việt Nam có 24 loài và phân loài.
Tuy nhiên theo hệ thống phân loại học phân tử các loài linh trƣởng Đông Dƣơng của Roos et al. (2007), thì Khu hệ thú linh trƣởng ở Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ. Năm 2010 Văn Ngọc Thịnh et al, căn cứ vào dữ liệu phân tích về gen, âm học và hình thái đã mô tả loài vƣợn mới ở dãy Trƣờng Sơn. Tên Vƣợn má vàng trung bộ (Nomascus annamensis) Van Ngoc Thinh, Mootnick, Vu Ngoc Thanh, Nadler, Roos, 2010).
Trong khi đó hệ thống phân loại thú linh trƣởng của Marye. Blair et al (2011), thì khu hệ linh trƣởng của Việt Nam gồm 26 loài và phân loài thuộc 3 họ. Hai loài mới so với danh lục của Groves (2004) là Khỉ đuôi dài côn đảo (Caenolestes condorensis) Albuja and Patterson, 1996) và Vƣợn má vàng trung bộ (Nomascus annamensis, Van Ngoc Thinh, Mootnick, Vu Ngoc Thanh, Nadler, Roos, 2010). Tilo Nadler (2012) đã liệt kê hệ thống phân loại linh trƣởng ở Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ.
Theo Roos et al., (2013) thì khu hệ linh trƣởng Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ. Mới đây nhất là theo phân loại linh trƣởng Châu Á của Roos et al (2014) thì khu hệ thú linh trƣởng Việt Nam có 25 loài và phân loài thuộc 3 họ. So với hệ thống phân loại của Marye. Blair et al (2011) thì hệ thống phân loại này không có Khỉ đuôi dài côn đảo (Caenolestes condorensis Albuja và Patterson, 1996).
4 Tuy có sự khác nhau về số lƣợng loài, nhìn chung các tác giả đều thống nhất rằng khu hệ thú Linh trƣởng ở Việt Nam có 3 họ chính: Họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vƣợn (Hylobatidae). Tổng kết về phân loại thú Linh trƣởng ở Việt Nam Năm Họ Số loài và phân loài Nguồn 2001 3 24 Groves (2001) 2002 3 25 Phạm Nhật (2002) 2004 3 24 Roos (2004) 2004 3 24 Groves (2004) 2007 3 25 Roos (2007) 2011 3 26 Marye. Blair et al., (2011) 2012 3 25 Tilo Nadler (2010) 2013 3 25 Roos et al., (2013) 2014 3 25 Roos et al. Một số đặc điểm của Họ Vƣợn (Hylobatidae) ở Việt Nam 1.
Đặc điểm sinh học, sinh thái của giống Nomascus Kích thƣớc quần thể: Cá thể vƣợn có trọng lƣợng cơ thể trung bình là 7 - 8 kg, nặng tƣơng đƣơng với trọng lƣợng của giống Bunopithecus (7kg), lớn hơn trọng lƣợng của giống Hylobates (khoảng 5kg) và nhỏ hơn trọng lƣợng của giống Symphalangus (khoảng 11kg). Theo phân tích trƣớc đây của (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009) thƣờng buổi sáng phát ra tiếng kêu rất sớm trong khoảng thời gian mặt trời sắp mọc. Hầu hết các đàn Vƣợn kêu phát ra âm thanh kéo dài kể cả cá thể đực và cá thể cái cùng hót. Các tiếng kêu phát ra nhằm thu hút sự chú ý đối với các loài cùng sinh sống trong lãnh thổ xây dựng mối quan hệ trong đàn.
Số lƣợng nhiễm sắc thể đối với cá thể mang gen lƣỡng bội là 2n = 52. Đặc điểm hình thái: Túm lông trên đầu dựng đứng, ở con đực phát triển hơn tạo thành một cái mào, những con cái trƣởng thành có đám lông đen trên đầu tƣơng phản với phần lông màu nhạt ở xung quanh. Có sự lƣỡng sắc giới tính thể hiện rõ ở những cá thể trƣởng thành: con đực thƣờng có màu lông đen (có 5 hoặc không có các mảng lông má màu sáng), cá thể cái có lông màu vàng nhạt hoặc màu vàng da cam hoặc màu be nhạt, thƣờng có mảng lông chẩm màu đen, có hoặc không có đám lông bụng màu tối. Những thay đổi về màu sắc của bộ lông trong quá trình phát triển cá thể: con non sinh ra có bộ lông màu đen, gần tƣơng tự nhƣ màu của con đực trƣởng thành.
Đến thời gian trƣởng thành sinh dục (khoảng 5 - 8 năm tuổi), con cái thay đổi màu lông lần thứ hai và có bộ lông màu sáng đặc trƣng của con cái trƣởng thành. Thú thuộc họ Vƣợn (Hylobatidae) đƣợc phân bố hầu khắp các khu vực rừng nguyên sinh các nƣớc Đông Nam Á. Mà tập trung nhất đó là 3 nƣớc Việt Nam, Lào và Campuchia. Phân bố ƣớc lƣợng thành phần loài cho thấy loài Vƣợn thuộc giống Nomascus của các tác giả khác nhau.
Theo Thomas geissmann et al. (2000) bao gồm 5 loài: 1. Vƣợn đen (chƣa định tên) Nomascus. Vƣợn đen tuyền (Nomascus concolor) 3.
Vƣợn má trắng siki (N. gabriellae) Đến năm 2002, Tilo Nadler et al. đã đƣa ra quan điểm tƣơng đối đồng nhất với Thomas geissmann. Số loài thuộc giống Nomascus gồm 5 loài, chỉ khác là Vƣợn đen hải nam (Nomascus concolor ssp) đƣợc thay cho Vƣợn đen (chƣa định tên) và tên khoa học của Vƣợn đen tuyền là (Nomascus concolor concolor) thay cho (Nomascus concolor).
Năm 2004, Grove trong bảng phân loại thú Linh trƣởng, tác giả vẫn giữ nguyên 5 loài Vƣợn thuộc giống Nomascus theo phân loại của Phạm Nhật. Tuy nhiên, tên khoa học một số loài đã có sự thay đổi.