CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG NGHỀ 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM TRA- ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC 1. Khái niệm kiểm tra đánh giá quá trình học tập: a/ Kiểm tra. Theo từ điển tiếng Việt, “Kiểm tra” được định nghĩa là “xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”.
Vậy kiểm tra là tiền đề, là bước đầu tiên để đánh giá, để đưa ra nhận xét hay quy định nào đó trong thực tế. Kiểm tra trong dạy học là một thuật ngữ chỉ sự đo lường, thu thập thông tin để có được những phán đoán, xác định xem mỗi người học sau khi học đã biết gì (kiến thức), làm được gì (kỹ năng) và bộc lộ thái độ ứng xử ra sao. Kiểm tra là một hoạt động khoa học, người kiểm tra cần phải có chuyên môn nghiệp vụ khoa học, việc kiểm tra cần có tổ chức, có kế hoạch. Đánh giá là quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những lượng giá về bản chất và phạm vi của kết quả học tập hay thành tích đạt được so với các tiêu chí và tiêu chuẩn thực hiện đã đề ra tại một thời điểm thích hợp trong quá trình dạy học.
Trong đào tạo nghề theo NLTH, sự lượng giá dựa vào các tiêu chí đánh giá và tiêu chuẩn thực hiện đã đề ra trong tiêu chuẩn kỹ năng nghề đào tạo. Ở đây, sự lượng giá tập trung vào cái mà người học, người dự thi có thể và cần phải làm được(đầu ra), nó lượng giá sự thực hiện của chính người học hay người dự thi đó so với những tiêu chí và tiêu chuẩn cụ thể xem đã đạt được hay chưa chứ không đưa ra sự so sánh với những người khác. Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở kiểm tra, bao giờ cũng đi liền với kiểm tra. Trong đánh giá, ngoài sự đo lường một cách khách quan dựa trên kiểm tra (hay trắc nghiệm), còn có ý kiến bình luận, nhận xét, phê phán mang tính chủ quan để đưa ra những quyết định thích hợp nhằm cải thiện thực trạng, điều chỉnh 10 nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc.
Đo lường là một phương thức dùng bài trắc nghiệm trong một dung sai để đạt một mức đo định lượng và tương đối khách quan về một hay nhiều tính chất nào đó. Khi đo lường, người ta thường sắp xếp mỗi cá nhân HS theo cấp, bậc từ thấp đến cao hay ngược lại, dọc theo một thang đo nào đó. Những mức độ đạt được, những thành quả khác nhau, biểu thị bằng điểm số chẳng hạn, sẽ giúp giáo viên đo lường và đánh giá mức độ thành công của công việc giảng dạy, học tập. Nếu có sẵn kết quả thi một bài trắc nghiệm tương đương từ trước, giáo viên có thể so sánh điểm của hai kì thi để ước định mức độ tiến bộ của học sinh.
Thông thường, kết quả bài làm của học sinh được ghi nhận một số đo (điểm số). Điểm số là kí hiệu gián tiếp phản ánh trình độ của học sinh. Về mặt định tính (giỏi, khá, trung bình, yếu, kém) và định hạng (thứ bậc cao thấp trong nhóm được kiểm tra đánh giá). Nhưng cần chú ý rằng điểm số không có ý nghĩa về mặt định lượng.
Ví dụ học sinh được điểm 10 thì cũng không có nghĩa là có trình độ cao gấp đôi học sinh được điểm 5, hoặc học sinh bị điểm 0 thì cũng không có nghĩa là học sinh đó không biết 1 chút gì về môn học đó. Mục đích, chức năng và các yêu cầu đối với việc kiểm tra đánh giá KQHT của học sinh: a/ Mục đích của việc kiểm tra đánh giá. ∗ Mục đích về mặt lý luận dạy học: - Xác định năng lực thực hiện (kiến thức, kỹ năng và thái độ) hiện có ở mỗi người học trước khi vào học. Thông qua kiểm tra, người dạy biết được trình độ người học, những điểm yếu của từng người trước khi vào học.
Điều này rất quan trọng, đặc biệt đối với các khoá học ngắn hạn, bồi dưỡng nâng cao trình độ vì nó giúp người dạy xác định được nhu cầu của người học để có thể điều chỉnh nội dung học sát hợp hơn. - Thúc đẩy học tập nhờ có thông tin phản hồi kịp thời cho người học biết tiến độ của mình. 11 Trước hết kiểm tra đánh giá có tác dụng kích thích người học, học tập. không có kiểm tra, thi cử chắc nhiều người học sẽ không học thật sự.
Bên cạnh đó, việc công khai hoá các nhận định về năng lực và KQHT của mỗi học sinh và của tập thể lớp còn tạo cơ hội cho học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ của mình, từ đó động viên, khích lệ người học học tốt hơn. Ngoài ra, việc kiểm tra đánh giá còn chỉ ra cho người học thấy họ đã học tốt nội dung nào, chưa tốt nội dung nào, cần học thêm cái gì, học lại cái gì. - Cải tiến việc dạy và việc học. Người dạy không biết rõ là nội dung đã được dạy đủ chưa, cần bổ xung cái gì, phương pháp dạy học (PPDH) đã phù hợp chưa, cần hỗ trợ thêm cho ai, người học cần được giúp thêm ở nội dung nào? ∗ Mục đích về mặt quản lý đào tạo: - Xử lý và/hoặc xác nhận năng lực thực hiện của người học để cấp văn bằng chứng chỉ.
Kiểm tra đánh giá nhằm khẳng định năng lực thực hiện của người học có đáp ứng các yêu cầu và tương xứng với văn bằng, chứng chỉ được cấp, đặc biệt là với chức năng, nhiệm vụ mà người tốt nghiệp sẽ phải đảm nhiệm. Điều quan trọng là phải xác định được một hệ thống kiểm tra, đánh giá phù hợp bao gồm từ quy chế thi và kiểm tra, tiêu chí kiểm tra đánh giá, hình thức kiểm tra đánh giá, loại công cụ, câu hỏi thích hợp, số lượng câu hỏi, cách xác định điểm đạt, mức đạt. b/ Chức năng của việc kiểm tra đánh giá. * Chức năng của việc kiểm tra đánh giá dạy học: - Chức năng đo lường.
Xác định được mức độ hiểu biết, kỹ năng, phẩm chất trí tuệ của học sinh so với chuẩn của mục đích đã định trước. Để thực hiện chức năng này phải: + Chính xác hóa và lượng hóa được các thông số cần đo (hiểu biết, kỹ năng). + Xác định độ chính xác, độ nhậy và sự biến đổi của phép đo. 12 - Chức năng thông tin.
Chức năng này giúp GV nắm được kết quả giảng dạy, từ đó điều chỉnh và hoàn thiện nội dung, phương pháp giảng dạy. Đồng thời giúp học sinh tự đánh giá kết quả học tập để điều chỉnh hoạt động học tập của mình theo các yêu cầu của môn học. - Chức năng chọn lọc và phân loại. + Chọn ra được những kiến thức (kỹ năng) mà học sinh đã nắm vững hoặc chưa nắm vững trong từng môn học.
+ Phân loại học tập ở các mức độ (giỏi, khá, trung bình, yếu, kém.), điều này có tác dụng kích thích sự học tập của học sinh. ∗ Chức năng của việc kiểm tra đánh giá trong quản lý giáo dục và đào tạo: - Chức năng kiểm soát và phát hiện. Kiểm soát và phát hiện là chức năng xác định thực chất hiệu quả giáo dục. Kiểm soát đúng sẽ phát hiện được các mặt ưu khuyết điểm của từng đối tượng quản lí giúp giáo viên làm tốt công tác điều khiển công việc và định hướng trong chỉ đạo.
Hoạt động kiểm soát phát hiện một khi được tiến hành thường xuyên sẽ giúp cho giáo viên không bị mắc bệnh quan liêu. - Chức năng động viên phê phán. Động viên và phê phán mang thuộc tính tâm lí xã hội. Kiểm tra đánh giá thường xuyên mới nắm được đầy đủ tư tưởng, tình cảm, năng lực của thầy và trò.
Mọi ý kiến giáo dục, động viên, phê phán đều xuất phát từ khâu kiểm tra đánh giá. Khi được kiểm tra đánh giá, GV và học sinh chắc chắn phải nỗ lực hơn trong công việc và trong học tập để bộc lộ khả năng hay hạn chế của mình. - Chức năng đánh giá. Đánh giá nhằm đo lường, xác định hiệu quả của lao động sư phạm, xác định trình độ thực hiện kế hoạch, xác định phẩm chất của thầy và năng lực của trò.
Đánh giá còn nhằm để khẳng định những yếu tố chủ quan, khách quan, những lệch lạc, sơ hở nhằm giúp cho giáo viên uốn nắn, điều chỉnh các quyết định nhằm đảm bảo chu trình quản lí được liên tục và đạt hiệu quả cao. 13 - Chức năng thu thập thông tin. Thu thập thông tin là chức năng trung tâm, trọng điểm của hoạt động kiểm tra đánh giá. Chỉ có kiểm tra mới có được các thông tin đáng tin cậy.
Việc xử lí đúng đắn các thông tin giúp cho giáo viên tác động kịp thời vào phong cách và thái độ làm việc của mình, điều chỉnh mục tiêu và quyết định cho chu trình quản lí làm việc mới của bản thân. c/ Các yêu cầu đối với việc đánh giá KQHT. - Đảm bảo tính quy chuẩn. Đánh giá dù theo bất kì hình thức nào, cũng đều nhằm mục tiêu phát triển hoạt động dạy và học, đồng thời phải đảm bảo lợi ích cho người được đánh giá và phát triển được.
Vì vậy, đánh giá cần tuân theo những chuẩn mực nhất định. Những chuẩn này được ghi rõ trong văn bản quy định hoạt động đánh giá phải được công khai với người được đánh giá. Những quy định này cần được chi tiết, đầy đủ, rõ ràng về mọi lĩnh vực, từ việc xác định mục tiêu, nội dung và phương thức đánh giá đến thời điểm đánh giá. Cụ thể + Mục tiêu đánh giá.
+ Nội dung đánh giá. + Tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá. + Phương pháp và phương tiện. + Người đánh giá.
+ Thời điểm đánh giá. + Địa điểm đánh giá. + Quyền lợi và trách nhiệm của người được đánh giá. + Tính pháp lí của việc đánh giá.
- Đảm bảo tính khách quan. Việc đánh giá khách quan sẽ có tác dụng kích thích động cơ và tính tích cực học tập của người học. Đồng thời duy trì và phát triển mối quan hệ thân thiện, đoàn kết giữa các học viên. Tính khách quan của việc đánh giá phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực, nghiệp vụ của người đánh giá.
14 Phụ thuộc tính quy chuẩn của việc đánh giá và phụ thuộc vào quan điểm, phương pháp và phương tiện đánh giá. - Đảm bảo tính xác nhận và tính phát triển.