Tính cấp thiết của đề tài luận văn Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường là động lực hàng đầu thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế. Hội nhập diễn ra dưới nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Hội nhập đã trở thành một xu thế lớn của thế giới hiện đại, tác động mạnh mẽ đến quan hệ quốc tế và đời sống của từng quốc gia. Sự phát triển DVC là một tất yếu khi một quốc gia đã chuyển sang nền kinh tế thị trường và chuyển sang nhà nước pháp quyền. Vì vậy, mức độ phát triển DVC phản ánh mức độ phát triển, tính chất xã hội của kinh tế thị trường, tính chất nhân dân của nhà nước pháp quyền. Cung ứng DVC là những hoạt động của cơ quan nhà nước trong chức năng quản lý hành chính và chức năng cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung và thiết yếu cho xã hội. Hiệu quả DVC phản ánh vai trò và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, chức năng phục vụ ngày càng được đề cao và chức năng quản lý ngày càng gọn nhẹ và hiệu quả. Nhà nước thực hiện hai chức năng cơ bản là chức năng quản lý và chức năng phục vụ. Chức năng thứ hai được thể hiện qua hoạt động cung ứng DVC cho xã hội, do Nhà nước hay các chủ thể được Nhà nước ủy quyền đứng ra thực hiện. Vì vậy, có thể phân DVC ra hai loại cơ bản là dịch vụ hành chính công và dịch vụ công cộng (gồm dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích)[34]. Trong khi dịch vụ hành chính công thể hiện vai trò quản lý nhà nước thì dịch vụ công cộng thể hiện vai trò phục vụ, tính xã hội của nhà nước. Nước ta đang trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN thì xã hội hóa DVC như một tất yếu của sự phát triển. Thời bao cấp ở nước ta là để chỉ một giai đoạn mà hầu hết hoạt động kinh KT- XH diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, theo đó thì kinh tế tư nhân dần bị xóa bỏ, nhường chỗ cho kinh tế do Nhà nước chỉ huy. Nhà nước là chủ thể duy nhất cung ứng dịch vụ cho xã hội. Nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế trầm trọng, đói nghèo diễn ra khắp mọi nơi, nhu cầu thiết yếu của xã hội không được đảm bảo. “Đổi mới” là một hướng đi đứng đắn của Đảng ta, là chương trình cải cách kinh tế và một số mặt xã hội do Đảng ta khởi xướng vào thập niên 1980. Chính sách đổi mới được chính thức thực 1 hiện từ Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản lần VI, năm 1986. Nhà nước dần dần không còn giữ vị thế độc quyền trong một số lĩnh vực cung ứng DVC, thay vào đó, Nhà nước đã chuyển dần cho khu vực tư nhân cung ứng. XHH DVC được nhắc tới ngày một nhiều hơn như một công cụ thúc đẩy sự phát triển KT-XH. Nhà nước chuyển vai trò từ người “chèo thuyền” sang người “lái thuyền”. XHH hoạt động cung ứng DVC về đo đạc và bản đồ đã được Đảng và Nhà nước quan tâm trong những năm vừa qua. Ngày 27 tháng 02 năm 2008 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 33/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành đo đạc và bản đồ Việt Nam đến năm 2020. Trong Quyết định này Thủ tướng đã yêu cầu các địa phương phải từng bước XHH hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ, thương mại hóa thông tin, tư liệu đo đạc và bản đồ. Sau đó, Chính phủ đã giao Bộ TN&MT nghiên cứu để xây dựng Luật Đo đạc và Bản đồ để trình Quốc hội thông qua. Dự kiến ban hành luật này trong giai đoạn năm 2008-2009. Nhưng thực tế đến nay, Luật Đo đạc và Bản đồ vẫn chưa được trình cho Quốc hội. Điều này cho thấy mức độ phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trong xã hội của ngành này. Khi mà chưa có luật thì ngành đo đạc và bản đồ chỉ mới được Nhà nước điều chỉnh dừng lại ở tầm “Nghị định” chưa phải là văn bản pháp lý cao nhất, ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả hoạt động cung ứng DVC về đo đạc và bản đồ cho cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân. Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08-11-2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, xác định mục tiêu của chương trình này là “XHH theo hướng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia cung ứng các dịch vụ trong môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh”. Theo một nghiên cứu được Ngân hàng Thế giới công bố ngày 12-12-2014 tại Hà Nội cho thấy, ở Việt Nam tham nhũng liên quan đến đất đai chỉ đứng sau tham nhũng trong ngành cảnh sát giao thông. Do đó lĩnh vực đất đai cũng là một trong những lĩnh vực cần phải tập trung cải cách. 2 Tỉnh Bình Dương là một trong những trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ của đồng bằng Đông Nam Bộ. Tỉnh có nhiều điều kiện cho sự phát triển KT-XH với nhiều loại hình dịch vụ phong phú, là tiền đề thúc đẩy XHH DVC trên địa bàn tỉnh phát triển. Bình Dương là tỉnh có tốc độ phát triển công nghiệp, phát triển đa dạng về các loại hình dịch vụ và có điều kiện để thực hiện XHH các DVC. Tại Bình Dương, theo thông tin do Văn phòng đăng ký đất đai (ĐKĐĐ) cung ứng năm 2016 thì có đến gần 99% hồ sơ đo đạc và bản đồ phục vụ giấy chứng nhận QSDĐ là do Văn phòng ĐKĐĐ thực hiện; trong khi đó Văn phòng ĐKĐĐ cũng là đơn vị tham mưu Sở TN&MT cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho tổ chức và cá nhân. Nói cách khác Văn phòng ĐKĐĐ vừa là cơ quan “đo đất” đồng thời cũng là cơ quan “cấp đất”. Thực tế này dẫn đến tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi”. Với những lý do trên học viên chọn vấn đề “Xã hội hóa hoạt động cung ứng dịch vụ công về đo đạc và bản đồ tại Văn phòng Đăng ký đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành Quản lý công. Nghiên cứu đề tài này không chỉ tạo cơ sở lý luận để nhận thức đầy đủ về DVC và XHH DVC tại một tỉnh năng động và phát triển của khu vực Đông Nam Bộ mà còn góp phần cung ứng luận cứ khoa học cho việc đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả XHH DVC trên địa bàn tỉnh Bình Dương phù hợp với mục đích và nội dung CCHC hiện nay. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Trên bước đường hội nhập quốc tế, Nhà nước phải tiến hành XHH một số ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể làm được, thậm chí còn làm tốt hơn khu vực công. Trong đó, XHH hoạt động cung ứng DVC về đo đạc và bản đồ cũng là một xu thế tất yếu khách quan. Nghiên cứu về DVC, xã hội hóa DVC đã được nhiều học giả quan tâm. Chúng ta có thể nêu một số công trình nghiên cứu khoa học xuất bản thành sách của các các tác giả sau: - PGS. Lê Chi Mai (2002), chuyển giao dịch vụ công cho các cơ sở ngoài nhà nước vấn đề và giải pháp, Nxb. Lao động - Xã hội. Đây là cuốn sách chuyên khảo 3 trình bày khá tổng quát về DVC và việc tổ chức cung ứng; tình hình cung ứng và chuyển giao DVC cho các cơ sở ngoài nhà nước ở nước ta; cũng như hoàn thiện quản lý nhà nước đối với chuyển giao dịch vụ cho các cơ sở ngoài nhà nước. - Đỗ Thị Hải Hà (2007), Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công, Nxb. Khoa học và Kỹ thuật. Đây là cuốn sách chuyên khảo trình bày lý luận chung quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC; quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC của một số nước trên thế giới; thực trạng quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC ở Việt Nam. Từ lý luận và thực tiễn, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cung ứng DVC ở Việt Nam. Đinh Văn Ân, Hoàng Thu Hòa (2007): Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, Nxb. Đây là cuốn sách tham khảo trình bày những vấn đề chung về DVC, đánh giá thực trạng cung ứng DVC và đề xuất các giải pháp đẩy mạnh XHH cung ứng các DVC ở Việt Nam. Cuốn sách nhấn mạnh các giải pháp đơn giản hóa các TTHC trong thành lập các đơn vị cung ứng DVC. Ngoài các sách chuyên khảo trên, một số nhà khoa học đã thực hiện nghiên cứu các đề tài khoa học về DVC, cải cách và XHH DVC. Tiêu biểu là các đề tài khoa học sau: - Trương Văn Huyền (2010), Hoàn thiện quản lý DVC ở Việt Nam hiện nay, đề tài cấp bộ B. Trên cơ sở lý luận về DVC và quản lý DVC; thực trạng quản lý DVC ở Việt Nam hiện nay, tác giả đề tài đã trình bày quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý DVC ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, ở phần thực trạng quản lý DVC ở Việt Nam hiện nay, tác giả đề tài mới chỉ phân tích một yếu tố ảnh hưởng đến quản lý DVC là hệ thống thể chế nhà nước mà chưa chú ý đến những yếu tố khác. Lê Chi Mai (2003), Cải cách dịch vụ hành chính công ở Việt Nam, đề tài cấp bộ 2001-54-057. Đề tài này đã trình bày hai mô hình cung ứng dịch vụ hành chính công nổi bật là mô hình Một cửa và mô hình Trung tâm dịch vụ hành chính công tại Hà Nội. Đã có một số tác giả nghiên cứu về cải cách DVC và XHH DVC đăng trên các tạ p chí chuyên ngành . Chúng ta có thể nêu một số bài viết sau: 4 - PGS. Phạm Thị Hồng Điệp (2013), Quản lý nhà nước đối với DVC, kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam, số 3 Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong bài viết này tác giả đã nêu lên tầm quan trọng của quản lý nhà nước đối với DVC một số nước trên thế giới, từ đó đề xuất các giải pháp có thể áp dụng cho Việt Nam. - Trong bài viết “Xã hội hóa dịch vụ công: Quan điểm tiếp cận và kinh nghiệm từ một số nước” của GS.
Luận văn ths về xã hội hóa hoạt động cung ứng dịch vụ công đo đạc và bản đồ tại Bình Dương
Luận văn ths qlc xã hội hóa dịch vụ công đo đạc và bản đồ tại văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Dương, phân tích và đề xuất giải pháp.
Trường đại học
Trường Đại họcChuyên ngành
Quản lý côngNgười đăng
Ẩn danhThể loại
luận văn cao họcPhí lưu trữ
35 PointMục lục chi tiết
THÔNG TIN CHI TIẾT
Trường học: Trường Đại học
Chuyên ngành: Quản lý công
Đề tài: Xã hội hóa dịch vụ công đo đạc và bản đồ tại Bình Dương
Loại tài liệu: luận văn cao học
Địa điểm: Bình Dương
Tài liệu "Xã hội hóa dịch vụ công đo đạc và bản đồ tại Bình Dương" đề cập đến việc cải cách và nâng cao chất lượng dịch vụ công trong lĩnh vực đo đạc và bản đồ thông qua việc xã hội hóa. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hợp tác giữa nhà nước và các tổ chức tư nhân nhằm tối ưu hóa quy trình cung cấp dịch vụ, từ đó mang lại lợi ích cho người dân và doanh nghiệp. Những điểm chính bao gồm việc cải thiện hiệu quả công việc, giảm thiểu thời gian chờ đợi và tăng cường sự hài lòng của người sử dụng dịch vụ.
Để mở rộng thêm kiến thức về các ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dịch vụ công, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ chế một cửa một cửa liên thông tại ubnd thành phố thủ dầu một tỉnh bình dương. Ngoài ra, nếu bạn quan tâm đến vai trò của nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công, hãy xem tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý công the states role in provision of testing service for food safety in vietnam from socialization perspective. Cuối cùng, để tìm hiểu thêm về sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công, tài liệu Nghiên cứu sự hài lòng của ngƣời dân đối với dịch vụ công về lĩnh vực đất đai tại huyện tuy phong tỉnh bình thuận sẽ cung cấp cho bạn những thông tin hữu ích. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh khác nhau của dịch vụ công trong bối cảnh hiện nay.
Trích đoạn nội dung tài liệu
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ