Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG CƠ CHẾ MỘT CỬA, MỘT CỬA LIÊN THÔNG 1. Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước Ngày nay, ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, hướng tới phát triển chính phủ điện tử là xu thế tất yếu, là mô hình phổ biến của nhiều quốc gia. Chính phủ điện tử là chính phủ ứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước, tăng cường công khai, minh bạch thông tin, giảm phiền hà, tham nhũng, tiết kiệm chi phí, cung cấp dịch vụ công tốt hơn cho người dân và doanh nghiệp. Quyết định số 153/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30 tháng 01 năm 2018 về phê duyệt Chương trình mục tiêu CNTT giai đoạn 2016- 2020, trong đó nêu rõ mục tiêu cần đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, xây dựng Chính phủ điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến thống nhất từ trung ương đến địa phương; nâng cao năng lực bảo đảm an toàn thông tin quốc gia và xác thực điện tử.
Khái niệm Theo Nghị định 64/2007/NĐ- CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 về việc Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước quy định: Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước là việc sử dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm: - Nâng cao chất lượng, hiệu quả trong hoạt động nội bộ của cơ quan nhà nước và giữa các cơ quan nhà nước, trong giao dịch của cơ quan nhà nước với tổ chức và cá nhân - Hỗ trợ đẩy mạnh cải cách hành chính và bảo đảm công khai, minh bạch. Cơ sở pháp lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước - Luật số 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 ban hành Luật công nghệ thông tin; 10 Luan van - Nghị định 64/2007/NĐ- CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 về việc Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước; - Quyết định số 43/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 24/3/2008 Phê duyệt Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước; - Quyết định 1605/QĐ- TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt chương trình Chương trình Quốc gia về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2011- 2015; - Quyết định 1819/QĐ- TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt chương trình Chương trình Quốc gia về Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016- 2020; - Công văn số 7572/VPCP- TCCV ngày 22/9/2015 của Văn phòng Chính phủ về việc Đề án “Hỗ trợ triển khai nhân rộng Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hiện đại; - Quyết định số 721/QĐ- UBND ngày 11/3/2010 của UBND tỉnh Bình Dương về ban hành Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước tại tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011- 2015; - Quyết định số 2138/QĐ-UBND ngày 26/7/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt dự án “Nhân rộng phần mềm quản lý hành chính một cửa tại Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã”; - Quyết định số 3282/QĐ- UBND ngày 02/11/2011 của UBND tỉnh Bình Dương về đề án cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011- 2015, định hướng đến năm 2020; - Quyết định số 02/QĐ- UBND ngày 05/01/2013 của UBND tỉnh Bình Dương về việc ban hành quy chế ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Bình dương; - Công văn số 376/STTTT- CNTT ngày 21/7/2015 của Sở Thông tin truyền thông về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục vụ cải cách hành chính tại UBND cấp huyện và cấp xã. Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước Căn cứ Nghị định 64/2007/NĐ- CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 về việc Ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước quy định nội dung và điều kiện đảm bảo ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước bao gồm các nội dung như sau: - Xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ cơ quan nhà nước Cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức xây dựng mạng chuyên dùng; tổng hợp dự toán kinh phí đầu tư xây dựng, khai thác, duy trì và nâng cấp cơ sở hạ tầng thông tin phục vụ cơ quan nhà nước từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác. Thực hiện tổ chức xây dựng, khai thác, duy trì và nâng cấp cơ sở hạ tầng thông tin trong phạm vi ngành hoặc địa phương mình.
Đầu tư xây dựng, khai thác, duy trì và nâng cấp cơ sở hạ tầng thông tin của cơ quan mình theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định - Cung cấp, tiếp nhận thông tin trên môi trường mạng Cơ quan nhà nước có trách nhiệm cung cấp trên môi trường mạng những thông tin để phục vụ lợi ích hợp pháp của người dân. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm tạo thuận lợi cho các hoạt động trên môi trường mạng, bao gồm: + Tiếp nhận ý kiến góp ý, khiếu nại, tố cáo, yêu cầu cung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân + Lưu trữ, xử lý, cập nhật, cung cấp thông tin, trả lời các yêu cầu + Chuyển yêu cầu cung cấp thông tin đến đúng cơ quan có liên quan nếu nội dung yêu cầu cung cấp thông tin vượt quá chức năng, nhiệm vụ hoặc quyền hạn của cơ quan mình. - Xây dựng trang thông tin điện tử cũng là một trong những nội dung ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước. Trong đó, trang thông tin điện tử phải đáp ứng các yêu cầu như: + Áp dụng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quy định; + Hiển thị thông tin nhanh chóng; 12 Luan van + Có công cụ tìm kiếm thông tin dễ sử dụng và cho kết quả đúng nội dung cần tìm kiếm; + Quy định rõ thời hạn tồn tại trực tuyến của từng loại thông tin.
- Phát triển nguồn nhân lực CNTT của cơ quan nhà nước Nhà nước có chính sách phát triển quy mô và tăng cường chất lượng đào tạo nguồn nhân lực CNTT của cơ quan nhà nước. Các cơ quan phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT trong cơ quan nhà nước. Tạo điều kiện cho cán bộ chuyên trách về CNTT được học tập, nâng cao trình độ quản lý, kỹ thuật nghiệp vụ ở trong và ngoài nước; cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo về kỹ năng ứng dụng CNTT trong xử lý công việc. Cơ quan nhà nước có trách nhiệm bố trí đủ cán bộ chuyên trách về CNTT, phù hợp với kế hoạch ứng dụng CNTT trong cơ quan mình.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong cơ chế một cửa, một cửa liên thông Căn cứ vào khái niệm ứng dụng CNTT trong hoạt động cơ quan nhà nước được quy định tại Nghị định 64/2007/NĐ-CP của Chính phủ, tác giả rút ra khái niệm ứng dụng CNTT trong cơ chế một cửa, một cửa liên thông được hiểu là việc sử dụng CNTT trong quá trình thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, góp phần làm cho hoạt động của cơ quan hành chính hiệu quả hơn, tính công khai, minh bạch của hành chính được thể hiện tốt hơn, hướng tới xây dựng mô hình cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiện đại. Cơ chế một cửa, một cửa liên thông 1. Khái niệm Căn cứ Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/04/2018 về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC quy định: Cơ chế một cửa trong giải quyết TTHC là phương thức tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả giải quyết TTHC, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết 13 Luan van TTHC cho tổ chức, cá nhân của một cơ quan có thẩm quyền thông qua Bộ phận Một cửa. Cơ chế một cửa liên thông trong giải quyết TTHC là phương thức phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả giải quyết một TTHC hoặc một nhóm TTHC có liên quan với nhau, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân thông qua Bộ phận Một cửa.
Trong đó, Bộ phận Một cửa là tên gọi chung của Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả giải quyết TTHC hoặc Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hướng dẫn, tiếp nhận, giải quyết hoặc chuyển hồ sơ giải quyết, trả kết quả giải quyết TTHC, theo dõi, giám sát, đánh giá việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân 1. Nguyên tắc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông - Lấy sự hài lòng của tổ chức, cá nhân là thước đo chất lượng và hiệu quả phục vụ của cán bộ, công chức, viên chức và cơ quan có thẩm quyền. - Việc giải quyết TTHC cho tổ chức, cá nhân theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông được quản lý tập trung, thống nhất. - Giải quyết TTHC kịp thời, nhanh chóng, thuận tiện, đúng pháp luật, công bằng, bình đẳng, khách quan, công khai, minh bạch và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền.
- Quá trình giải quyết TTHC được đôn đốc, kiểm tra, theo dõi, giám sát, đánh giá bằng các phương thức khác nhau trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng CNTT và có sự tham gia của tổ chức, cá nhân. - Không làm phát sinh chi phí thực hiện TTHC cho tổ chức, cá nhân ngoài quy định của pháp luật. - Cán bộ, công chức, viên chức cơ quan có thẩm quyền thực hiện trách nhiệm giải trình về thực thi công vụ trong giải quyết TTHC theo quy định của pháp luật. - Tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam và các Điều ước quốc tế có liên quan đến thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết TTHC mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.
Ý nghĩa thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông Đối với đội ngũ cán bộ, công chức Thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông đã góp phần tăng cường năng lực, trách nhiệm của cán bộ, công chức; kỹ năng nghiệp vụ hành chính cũng như tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức được nâng cao nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.