Chương 1. SỰ THIẾT LẬP CỦA VƯƠNG TRIỀU GIA LONG VÀ NHỮNG YÊU CẦU LỊCH SỬ ĐẶT RA 1. Vài nét về vua Gia Long và sự thiết lập vương triều nhà Nguyễn 1. Vài nét về vua Gia Long và quá trình bôn tẩu xây dựng lực lượng chống lại nhà Tây Sơn Vua Gia Long tên húy là Chủng, có tên là Noãn (Tên gọi này có ý nghĩa là “tượng của mặt trời khi giữa trưa” [80, 204]), tên thường gọi là Nguyễn Phúc Ánh (hay còn được gọi là Nguyễn Ánh).
Ông sinh ngày 8 tháng 2 năm Nhâm Ngọ (tức năm 1762), là con thứ ba của Hưng Tổ Hiếu Khang hoàng đế (tức Nguyễn Phúc Luân) với mẹ là Hiếu Khang hoàng hậu Nguyễn thị (tên thật là Nguyễn Thị Hoàn), cháu nội của Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát. Nguyễn Ánh sinh ra và lớn lên trong lúc mà tình hình đất nước chứng kiến nhiều sự rối ren, cơ đồ của họ Nguyễn ở Đàng Trong đứng trước những thử thách sống còn. Khi ông mới lên 4 tuổi, cha của ông vì sự lộng quyền của Trương Phúc Loan mà qua đời1. Sự lộng hành và thâu tóm quyền lực từ chính trị đến kinh tế của bè lũ Trương Phúc Loan (nhân dân Đàng Trong gọi là Trương Tần Cối) đã dẫn đến sự sa hoa, bại hoại của hệ thống chính quyền họ Nguyễn mà theo sử sách mô tả thì: “Quan viên lớn nhỏ không ai không là không nhà cửa chạm gọt, tường vách gạch đá, the màn trướng đoạn, đồ đạc đồng thau, bàn ghế gỗ đàn gỗ trắc, chén mâm đồ sứ đồ hoa, yên cương vàng bạc, y phục gấm vóc, chiếu đệm mây hoa, phú quý 1.
Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát nhận thấy hoàng tử thứ 2 của mình (tức Nguyễn Phúc Luân) là người thông minh đỉnh ngộ nên có ý định chọn Nguyễn Phúc Luân làm người kế vị mình“Hưng tổ Hiếu khang hoàng đế khi nhỏ khôi ngô khác thường, theo vai vế thì đáng được lập. Thế tông Hiếu võ hoàng đế sai Nội hữu Trương Văn Hạnh làm thầy, muốn để cho nối ngôi. Bắt đầu cho các chức chưởng cơ, thường được tham dự triều chính” (Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập I, bản dịch của viện sử học, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr. 169) Tuy nhiên, sau khi Võ Vương mất, quyền hành chính trị ở Đàng Trong rơi vào quyền thần Trương Phúc Loan.
Bấy giờ Trương Phúc Loan không muốn lập Nguyễn Phúc Luân vì Luân đã lớn tuổi,khó bề thao túng. Lúc bấy giờ, một người con khác của Võ Vương là Nguyễn Phúc Thuần mới có 12 tuổi. Trương Phúc Loan bèn thông đồng với thái giám Chử Đức Hầu và nội tả Thân Kinh Hầu làm giả di mệnh, lập Nguyễn Phúc Thuần lên ngội chúa. Nguyễn Phúc Luân bị Trương Phúc Loan tống giam.
Vì quá uất ức trước sự chuyên quyền của Trương Phúc Loan và lo buồn cho tính mạng của mình mà Phúc Luân sinh bệnh rồi mất năm mới 33 tuổi 21 phong lưu, đua nhau khoe đẹp….Coi vàng bạc như cát, thóc gạo như bùn, xa xỉ nhất mực” [25, 430]. Hệ quả của sự bại hoại đó là những nỗi cơ cực đổ xuống đầu người dân bởi tình trạng tham nhũng và thối nát của bộ máy chính quyền họ Nguyễn mà như Lê Quý Đôn mô tả:“Hàng năm có hàng trăm thứ thuế mà trưng thu thì phiền phức, gian lận, nhân dân khổ về nỗi một cổ hai tròng. Cụ thể là ngoài tô thuế ruộng đất, nhân dân phải nộp thuế dân đinh, nộp tiền cung đồn cho quan lại, tiền nộp thóc vào kho, tiền khoán khố, tiền dầu đèn, tiền bao mây, tiền mỡ lợn, thuế lâm sản, thuế đầu nguồn, thuế đò, thuế chợ, thuế thuyền… Pháp lệnh rất phiền, nhân viên thu thúc rất nhiều nên dân nghèo thường khổ vì nộp gấp bội mà trong thì ty lại, ngoài thì quan bản đường, bớt xén không thể kiểm xét được… Quan lại ở Đàng Trong nhũng lạm quá đáng lắm hết thảy bổng lộc đều lấy của dân, dân chịu sao nổi” [25; 171]. Đời sống của người dân Đàng Trong lâm vào sự khốn quẩn bởi “để tích lũy của cải, nhà chúa đã cho áp dụng nhiều biện pháp bề ngoài tỏ ra rất có lợi nhưng rất tàn hại cho dân chúng; hơn nữa, người ta còn thấy chúa dùng bạo lực để chiếm đoạt những thứ gì hiếm lạ và quý giá mà thần dân của ngài có thể có được.
Các quan to bắt chước theo. Điều đó dẫn tới kết quả là dân chúng tỏ ra nghèo túng hơn so với thực tế, sinh sống trong cảnh tăm tối và chọn giấu tiền cùng những đồ vật tốt đẹp nhất của họ để tránh bị truy lùng” [15; 95]. Trong số các vùng miền của Đàng Trong, nạn đói ở Thuận Hóa là diễn ra nghiêm trọng nhất đến nổi “Thuận Hóa bị đói to, mỗi lẻ gạo trị giá một tiền, người chết đói rất nhiều, người nhà có khi ăn thịt của nhau” [77; 179]. Điều này đã được giáo sĩ Bartette xác nhận trong một bức thư vào cuối năm 1774 như sau: “Vào những tháng cuối năm Giáp Ngọ (1774), gạo đắt như vàng… tình trạng đói khổ bày ra nhiều cảnh thương tâm khó tả.
Xác chết chồng lên nhau. Có người không chịu nổi cảnh đói đã phải uống thuốc độc mà chết. Thịt người được bán ngay ở chợ. Số người chết ở Thuận Hóa lên đến quá nửa” [6; 70].
Trước những sự thống khổ phải chịu đựng, nhân dân Đàng Trong mà trước nhất là người dân vùng Thuận Hóa đã đứng lên đấu tranh 22 mạnh mẽ chống lại sự cai trị của chính quyền họ Nguyễn. Lê Quý Đôn trong Phủ Biên Tạp Lục đã ghi nhận không khí sục sôi trên như sau: “Bấy giờ, Thuận Hóa luôn mấy năm mất mùa đói kém, lại phải đánh trận bắt lính không thôi, quân dân lìa lòng, sùng sục mong làm loạn” [25; 88]. Cơ nghiệp mà họ Nguyễn gây dựng hơn 200 năm ở Đàng Trong lâm vào cảnh bi đát, đứng trước sự tồn vong. Đó chính là bối cảnh lịch sử đưa đến sự ra đời của phong trào nông dân Tây Sơn – một phong trào nông dân hết sức lớn mạnh và là kết tinh đỉnh cao của phong trào nông dân trong lịch sử Việt Nam thời Trung Đại.
Phong trào nông dân Tây Sơn nỗ ra vào năm 1771 ở vùng Tây Sơn Thượng Đạo1 rồi nhanh chóng phát triển ra những vùng xung quanh, từng bước làm chủ nhiều vùng đất đai ở Đàng Trong. Trước sự lớn mạnh của phong trào nông dân Tây Sơn, quân đội chúa Nguyễn thua trận liên tiếp, nguyên nhân chính là do “bấy giờ bình tĩnh đã lâu, tướng sĩ không quen trận mạc, khi phải đi đánh, phần nhiều thác cớ cầu miễn. Trương Phúc Loan thì lại ăn hối lộ mà sai thay người khác, mọi người đều căm oán, ra trận là chạy ngay. Do đó thế giặc càng thịnh” [25; 88].
Đến năm 1773, khi mới lên 11 tuổi, Nguyễn Ánh đã phải chứng kiến cảnh phủ thành Quy Nhơn rồi cả đất Quảng Nam rơi vào tay quân Tây Sơn. Chính quyền họ Nguyễn vì thế mà càng bị suy yếu. Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đã nhân cơ hội đem quân vượt giới tuyến (tức sông Gianh) để tấn công vào phía Nam. Tháng 5-1774, Trịnh Sâm cử Hoàng Ngũ Phúc làm thống tướng, Bùi Thế Đạt làm phó tướng cùng với Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình Thể thống lĩnh binh lính các đạo Thanh – Nghệ xuất binh.
Đến tháng 9-1774, quân của Hoàng Ngũ Phúc đã tiến ra Bắc Bố Chính, sau đó đã bí mật vượt sông Gianh tiến đánh dinh Bố Chính và chiếm được lũy Trấn Ninh, một đồn lũy hiểm yếu rồi đóng quân ở dinh Quảng Bình. Với việc chiếm được Quảng Bình, tức là chìa khóa cửa ngõ của giang sơn chúa Nguyễn đã bị rơi vào tay quân Trịnh 1. Tây Sơn thượng đạo là vùng cao nguyên An Khê. Đây là một cao nguyên bằng phẳng với độ cao trung bình 400 mét, có sông Ba chảy qua.
Cao nguyên An Khê phía tây giáp với cao nguyên Kontum - Plâycu qua đèo Mang Giang và phía đông thông với vùng đồng bằng qua đèo Mang (đèo An Khê) 23 [106; 373]. Sau khi chiếm được Quảng Bình, Hoàng Ngũ Phúc tiếp tục tiến quân vào Nam với mục đích là tiêu diệt quan quân chúa Nguyễn, thâu tóm đất Thuận Hóa. Mùa đông năm 1774, quân Trịnh thừa thắng tiến thẳng vào Phú Xuân, tình cảnh của chúa Nguyễn giờ đây trở hết sức bi đát như lời miêu tả của giáo sĩ là Halbout trong một bức thư viết hồi tháng 7 năm 1775: “Ở Đàng Ngoài, Chúa Trịnh nghe báo về cuộc đánh nhau giữa Tây Sơn và quân chúa Nguyễn đã vội vàng phái một viên tướng đưa mấy đạo quân, mượn tiếng là dẹp loạn nhưng thực ra là lợi dụng cơ hội này mong chiếm lấy nốt đất Đàng Trong. Bị bất ngờ, chúa Nguyễn hoảng hốt bỏ chạy hôm 28 âm lịch, tính theo dương lịch là cuối tháng giêng năm 1775.
Suýt tí nữa là ngài đã bị quân Đàng Ngoài bắt được. Lúc ngài chạy xuống thuyền thì các bến sông đã bị quân Đàng Ngoài vây chặt. Ngài vội bỏ thuyền chạy trốn bằng đường bộ. Cùng chạy theo ngài chỉ có ba bốn người lính.
Vào đến tỉnh Chăm (ở đây là tỉnh Quảng Nam) thì gặp đạo quân của Ngài đang cầm cự với quân nổi loạn (chỉ quân Tây Sơn) ở đó. Mấy hôm sau, quân nổi loạn mở cuộc tiến công đánh tan đạo quân của chúa Nguyễn” [145; 41]. Lúc này, chúa Nguyễn Phúc Thuần liền đưa tàn quân của họ Nguyễn chạy vào Gia Định, dựa vào địa thế nơi đây để chống lại kẻ thù, chúa dụ rằng: “Tây Sơn dẫu một thời gian hung hăng, nhưng phía bắc có quân Trịnh, phía nam có đại binh Gia Định, trước mặt sau lưng đều bị địch, khó giữ lâu được, bọn ngươi nếu không sớm biết thời cơ, sau này không khỏi là bè đảng giặc. Chi bằng tránh chỗ tối, hướng chỗ sáng, theo ta vào Nam, ước hẹn với quân Gia Định cùng mưu đồ khôi phục, để công danh ghi sử sách, há chẳng hay” [80; 183].
Trước tình thế trên, Nguyễn Ánh đã phải cùng với hai chúa Nguyễn (Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương) bôn ba về vùng đất Nam, trên mạn thuyền nổi trôi theo dòng may rủi của thời cuộc. Trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Ánh đã sớm tỏ rõ được tư chất thông minh của mình. Sách sử triều Nguyễn chép rằng: “Vua thông minh vốn sẵn, được Duệ Tông (tức Nguyễn Phúc Thuần) rất quý trọng, cho ở 24 trong cung… khi vào Gia Định, được trao chức Chưởng sử, coi quân Tả dực. Mỗi khi có việc quân, Duệ Tông cùng với vua bàn tính, nhiều điều rất đúng, các tướng đều tâm phục” [80; 204].
Dù rằng tài năng sớm đã được thể hiện nhưng không vì thế mà Nguyễn Ánh lấy đó làm kiêu căng, tự mãn hay tỏ ra chuyên quyền mà lấn át hai chúa Nguyễn.