Chương 1: Giới thiệu tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước. Chương này trình bày các khái niệm, cơ sở lý thuyết, cách đo lường của vốn xã hội và hạnh phúc, đồng thời nêu ra những lý thuyết liên quan giữa di cư – hạnh phúc – vốn xã hội. Cuối cùng, điểm qua các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trình bày các giả thuyết nghiên cứu mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô tả số liệu. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu. Chương này tác giả phân tích thống kê mô tả và thảo luận kết quả hồi quy OLS của nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị của nghiên cứu. Trình bày tóm tắt các kết quả đã đạt được. Đề ra các kiến nghị và hạn chế cũng như hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Trang 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, tác giả tập trung nêu các khái niệm của bài nghiên cứu.
Những lý thuyết về hạnh phúc, vốn xã hội, và nhấn mạnh vai trò của vốn xã hội tới hạnh phúc của người di cư. Ngoài việc nghiên cứu lý thuyết, tác giả còn tổng hợp một số nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến nội dung bài viết. Chính việc tổng hợp lý thuyết và thực nghiệm giúp tác giả xây dựng được các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và là nền tảng để giải thích kết quả của bài nghiên cứu.1 Khái niệm về hạnh phúc Shin và Johnson (1978) định nghĩa hạnh phúc như cảm xúc tự nhiên của con người (cảm thấy hạnh phúc), là sự biểu hiện hay đánh giá một tình huống (hạnh phúc bởi cái gì), và là sự đánh giá cuộc sống của một cá nhân theo cách nhìn nhận tổng thể (được hạnh phúc). Diener và ctg (1999) định nghĩa hạnh phúc là thành phần thuộc về cảm xúc mang tính chủ quan, phản ánh những suy nghĩ và cảm xúc tích cực về cuộc sống của một cá nhân nào đó, bao gồm ba yếu tố là cảm xúc tích cực thường xuyên, cảm xúc tiêu cực không thường xuyên, và cảm nhận về sự hài lòng với cuộc sống.
Cụ thể, cảm xúc tích cực giúp mở rộng nhận thức, và cảm xúc tiêu cực làm hẹp lại nhận thức. Dinner và ctg (1999) lập luận một người thường xuyên có những suy nghĩ và cảm xúc tích cực sẽ có khuynh hướng nhìn nhận vấn đề sáng suốt, dễ dàng giải quyết các sự việc khó khăn, giảm căng thẳng dẫn đến tâm hồn cởi mở, cảm thấy gần gũi và tin tưởng người khác. Tất cả những yếu tố đó giúp con người đạt được nguồn lực để xây dựng hạnh phúc. Ngược lại, một người có lối suy nghĩ tiêu cực sẽ có những phán đoán sai lệch, khiến cá nhân đó khó để hòa đồng hay cảm nhận được hạnh phúc.
Argyle (2013) định nghĩa hạnh phúc là sự kết hợp của các điều kiện khách quan (như tình trạng kết hôn, việc làm) và cách con người nhìn nhận vào mọi thứ. Argyle (2013) phân chia hạnh phúc thành ba thành phần tương quan chặt chẽ nhưng độc lập nhau, bao gồm: hạnh phúc mang tính chủ quan, sự hài lòng với Trang 7 cuộc sống và sự vắng mặt của những nỗi lo sợ và muộn phiền. Trong đó, hạnh phúc mang tính chủ quan là những tâm trạng hay cảm xúc (vui mừng, sự hân hoan); sự hài lòng nói đến chất lượng hay hoàn cảnh của cuộc sống mà gây ra sự hài hài lòng hoặc không hài lòng (như sự giàu có của cá nhân, các mối quan hệ trong gia đình, sự tham gia vào cộng đồng, tình trạng việc làm, thành tựu đạt được, v.v…); cuối cùng, sự vắng mặt của những nỗi lo sợ, phiền muộn và tình trạng bấp bênh tuy tự nó không tạo nên hạnh phúc, nhưng là điều quan trọng trước nhất. Veenhoven và ctg (1993) định nghĩa hạnh phúc là sự hài lòng với cuộc sống, là mức độ mà một cá nhân đánh giá tổng quan chất lượng cuộc sống theo hướng thuận lợi.
Khi các đánh giá về cuộc sống kết tụ thành một quan điểm ổn định, hạnh phúc được xem như một thái độ hướng về cuộc sống. Như vậy, theo định nghĩa của Veenhoven hạnh phúc không phải là một khía cạnh cụ thể nào đó như công việc hay hôn nhân mà là cái nhìn tổng quan. Ví dụ, không thể kết luận một cá nhân nào đó hạnh phúc khi cá nhân đó hài lòng với hôn nhân, nhưng không hài lòng với công việc, hoặc sức khỏe không tốt. Sumner (2000) định nghĩa hạnh phúc hay sự hài lòng với cuộc sống là một phản ứng của nhận thức, hoặc cảm xúc tích cực đối với một phần hoặc toàn bộ các điều kiện, hay hoàn cảnh của cuộc đời một con người.
Định nghĩa này thường được sử dụng trong các nghiên cứu thực nghiệm. Một cách tổng quan, hạnh phúc theo Sumner chủ yếu dựa trên hai thành phần: (1) cảm xúc (chủ yếu dựa vào tâm trạng), (2) nhận thức (chủ yếu dựa vào sự tự phản ánh và nhận thức). Khái niệm này sau đó được Veenhoven (2011) đề nghị và áp dụng trong cơ sở dữ liệu thế giới về hạnh phúc (World Database of Happiness). Như vậy, đề tài vừa điểm qua một vài định nghĩa về hạnh phúc, qua đó có thể nhận thấy sự đa dạng trong cách hạnh phúc được định nghĩa ở các lĩnh vực khác nhau như đạo đức, thần học, chính trị, kinh tế và tâm lý học.
Thậm chí, nhà tâm lý học người anh Argyle (2013) cũng thừa nhận hạnh phúc là một khái niệm rất mập mờ và khó hiểu mặc dù tất cả mọi người đều biết rõ hạnh phúc là gì. Phần lớn các định nghĩa đều nhìn nhận hạnh phúc thuộc về trạng thái chủ quan hơn là khách quan, do đó mức độ đánh giá hạnh phúc sẽ tùy thuộc vào sự cảm Trang 8 nhận của mỗi cá nhân. Trong đề tài này, hạnh phúc được hiểu theo định nghĩa của Sumner (2000), hay nói cách khác hạnh phúc là sự hài lòng với cuộc sống, chủ yếu dựa vào sự tự đánh giá của mỗi cá nhân.2 Đo lường hạnh phúc Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi về hai thuật ngữ "hạnh phúc" và "sự hài lòng với cuộc sống", có nghiên cứu định nghĩa thuật ngữ "hạnh phúc" và "sự hài lòng trong cuộc sống" khác nhau; cụ thể, hạnh phúc được xem như trạng thái về cảm xúc, còn sự hài lòng được xem xét thiên về nhận thức; trong khi có những nghiên cứu sử dụng những thuật ngữ này là như nhau (Benz và Frey 2008; Veenhoven 2009). Mặc dù có vài điểm khác nhau giữa hai thuật ngữ này, nhưng chung quy lại nó là sự tự đánh giá của một cá nhân về mức độ hài lòng trong công việc, các hoạt động giải trí, tình hàng xóm, đời sống gia đình, hôn nhân, năng lực bản thân, v.
Do đó, trong đề tài này tác giả sử dụng hai thuật ngữ này thay thế cho nhau. Hạnh phúc là biến phụ thuộc trong đề tài, dựa theo định nghĩa của Sumner (2000), hạnh phúc được đo lường ở cả hai khía cạnh là cảm xúc và nhận thức. Theo Klein (2011), hạnh phúc là một phức hợp của nhiều yếu tố ghép lại, do vậy đo lường hạnh phúc bằng cách thêm các điểm số tự ghi nhận của mỗi cá nhân từ sự tự đánh giá của cá nhân đó về hạnh phúc và sự hài lòng trong cuộc sống; từ những đánh giá này sẽ cho ra một chỉ số giúp đánh giá toàn diện cả về mặt cảm xúc lẫn nhận thức cùng lúc. Frey và Stutzer (2002) đưa ra hàm của hạnh phúc là một hàm tìm kiếm, thiết lập một mối quan hệ toán kinh tế giữa việc đo lường hạnh phúc và các thành phần tác động đến hạnh phúc.
Theo đó, hạnh phúc được đo lường bằng cách xác định mức độ hạnh phúc thông qua các câu hỏi để các cá nhân tự đánh giá họ hạnh phúc (hay hài lòng) như thế nào ở thời điểm hiện tại với thang đo likert 4 hoặc 10 (các nghiên cứu của Bjornscov, 2003; Helliwell và Putnam, 2004; Anheier và ctg, 2004). Nghiên cứu của Leung (2011) về sự khác nhau giữa các thang đo Likert 4, 5, 6 và 11 trong đo lường sự tự đánh giá về năng lực bản thân của các sinh viên cho thấy không có sự khác nhau về giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số tương quan Trang 9 biến tổng, Cronbach’s Alpha, hoặc hệ số tải nhân tố; trong đó, thang đo 11 bậc (từ 0 đến 10) có độ nhọn nhỏ nhất và gần với tiêu chuẩn nhất. Wu và Leung (2017) cũng khuyến khích sử dụng thang đo Likert 11 để làm tăng sự khái quát hóa trong các nghiên cứu kinh tế và xã hội học. Nhìn chung, câu hỏi phổ biến nhất khi đo lường hạnh phúc là “Xem xét tất cả mọi thứ, bạn hài lòng với cuộc sống của bạn như thế nào những ngày này?”, hoặc “Xem xét mọi khía cạnh, bạn sẽ nói rằng bạn rất hạnh phúc, khá hạnh phúc, hay không hạnh phúc?”.
Phương pháp đo lường hạnh phúc bằng cách tự đánh giá này đã được thí nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu với giá trị và độ tin cậy cao (Brockmann và ctg, 2009; Glatzer, 2000), có giá trị bao quát (Frey và Stutzer, 2002), các câu trả lời nhìn chung có thể so sánh được thậm chí đối với các cá nhân trong những phạm vi khác nhau (Easterlin, 2001). Như vậy, giá trị của hạnh phúc mang tính chủ quan, thay đổi tùy theo thang đo được sử dụng, khung thời gian của các câu hỏi, tâm trạng tại thời điểm đo lường và những nhân tố tình huống khác (Schwarz và Strack, 1988). Theo đó, hạnh phúc trong đề tài được đo lường bằng cách hỏi người được điều tra tự đánh giá mức độ đồng ý của bản thân với các câu phát biểu đánh giá về sự hài lòng trong cuộc sống nói chung với thang đánh giá từ 0 (hoàn toàn không đồng ý) đến 10 (hoàn toàn đồng ý), và được xem như là một biến liên tục.3 Khái niệm về vốn xã hội Mặc dù vốn xã hội không còn mới trong lĩnh vực khoa học và xã hội, nhưng đã có nhiều tranh cãi xoay quanh khái niệm của thuật ngữ này, Putnam (2001) đã nhận định vốn xã hội phần nào là một hiện tượng trừu tượng và mơ hồ. Nguồn gốc định nghĩa của vốn xã hội có nghĩa là sự sản xuất ra hàng hóa ở cấp độ cá nhân (Coleman, 1990).
Bourdieu (1986) định nghĩa vốn xã hội trong phạm vi của giai cấp và các cuộc đấu tranh quyền lực giành địa vị.