Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG 1. Cơ sở lý luận về chất lượng cuộc sống 1. Quan niệm về cuộc sống và chất lượng cuộc sống 1.
Chất lượng Mục tiêu nâng cao CLCS không phải là mục tiêu của một hoặc một vài quốc gia mà toàn bộ thế giới. Có thể hiểu chất lượng ở đây có thể là một sản phẩm tốt, một mô hình hay một dịch vụ phục vụ được những điều mong muốn của con người hoặc cũng có thể là những giá trị tinh thần thỏa mãn được nhu cầu của con người. Chất lượng cuộc sống Có nhiều quan điểm khác nhau về CLCS tùy vào trình độ phát triển, nhận thức về văn hóa xã hội, truyền thống của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng.Mác và một số tác giả khác như A.Ricardo… thì nâng cao CLCS là mục đích nhằm tạo thuận lợi, giúp con người có cuộc sống phong phú về vật chất và tinh thần. Theo William Bell thì CLCS được thể hiện qua các đặc trưng sau: “An toàn thể chất cá nhân; sung túc về kinh tế; công bằng trong khuôn khổ pháp luật; an ninh quốc gia; bảo hiểm lúc già yếu và đau ốm; hạnh phúc tinh thần; sự tham gia vào đời sống xã hội; bình đẳng về giáo dục, nhà ở, nghỉ ngơi; chất lượng đời sống văn hóa; quyền tự do công dân; chất lượng môi trường kỹ thuật (giao thông vận tải, nhà ở, thiết bị sinh hoạt, thiết bị giáo dục, y tế); chất lượng môi trường sống và khả năng chống ô nhiễm”.
Qua các đặc trưng trên trên, ta thấy rằng William Bell đã mở rộng nhiều vấn đề trong CLCS, đặc biệt là nhấn mạnh về môi trường sống của con người. Như vậy, có thể thấy rằng CLCS thể hiện sự đáp ứng những nhu cầu của xã hội từ vật chất đến tinh thần. Mức độ đáp ứng các nhu cầu càng cao thì CLCS càng cao. Nâng cao CLCS là nâng cao sự đáp ứng về các nhu cầu cơ bản của con người như lương thực, thực phẩm, giáo dục, y tế, nhà ở, sự vui chơi, nghỉ ngơi, giải trí… chính điều này làm cho con người có cuộc sống đầy đủ, phong phú, hạnh phúc và khỏe mạnh hơn.
9 Ngoài ra, CLCS còn là được sống trong môi trường tự nhiên trong lành và môi trường xã hội lành mạnh. Một môi trường sống không bị ô nhiễm, bền vững là nơi cư trú tốt cho người và là không gian làm việc hiệu quả. Ngoài ra, sống trong trong một xã hội an toàn về chính trị, quốc phòng, an ninh được đảm bảo, tệ nạn được đẩy lùi sẽ giúp đời sống con người được ổn định. Liên Hiệp Quốc (LHQ) cũng đưa ra chỉ số phát triển con người - Human Development Index (HDI) để đánh giá CLCS của mỗi quốc gia.
Theo chỉ số này, CLCS được phản ánh qua ba tiêu chí: thu nhập bình quân đầu người, chỉ số giáo dục và chỉ số y tế. Quốc gia nào có chỉ số HDI lớn thì là quốc gia giàu, mạnh có đời sống cao và ngược lại. Chỉ số này của LHQ đánh giá CLCS còn hạn hẹp. Như vậy, CLCS là sự đáp ứng những nhu cầu tối thiểu, cơ bản về vật chất, sự đáp ứng càng cao thì CLCS càng cao.
Ngoài ra, CLCS còn thể hiện qua môi trường sống trong sạch và cuộc sống được đảm bảo an ninh, bình đẳng. Tóm lại, CLCS không phải là một khái niệm hữu hình, chúng ta không thể đưa ra một cách chính xác các tiêu chí để đánh giá mà chỉ ở mức tương đối. Và từ các phân tích trên, theo quan niệm của tác giả về CLCS như sau: “Chất lượng cuộc sống là sự đáp ứng nhu cầu về vật chất, tinh thần nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người”. Một số tiêu chí đánh giá về chất lượng cuộc sống 1.
Chỉ số về tổng hợp phản ánh chất lượng cuộc sống – HDI HDI là một thước đo tổng quát về phát triển con người. Trước năm 2010 khi đánh giá CLCS dựa vào GDP/người, tuổi thọ trung bình và giáo dục. Qua cách tính toán này, ta thấy rằng không phải bất kỳ quốc gia nào có thu nhập cao thì trình độ dân trí cao và chú ý đến chăm sóc sức khỏe người dân. Một số quốc gia có thu nhập bình quân thấp nhưng lại quan tâm đến giáo dục và y tế.
Từ năm 2010, có một số thay đổi trong việc tính toán HDI. Nó đo thành tựu trung bình của một quốc gia theo ba tiêu chí sau: - Sức khỏe (LEI): Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, đo bằng tuổi thọ trung bình. 10 - Thu nhập: Mức sống đo bằng GNI bình quân đầu người. - HDI được tính theo công thức: HDI = (I sức khỏe X I giáo dục X I thu nhập)1/3 Trong đó: + Isức khỏe (I1): chỉ số tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh, chỉ số tuổi thọ được tính như sau: Trong đó: X tuổi thực : Tuổi thọ trung bình thực tế X tuổi max : Tuổi thọ trung bình tối đa X tuổi min : Tuổi thọ trung bình tối thiểu + I giáo dục (I2): chỉ số giáo dục được tính bằng cách bình quân nhân giản đơn chỉ số năm đi học bình quân và chỉ số năm đi học kỳ vọng Số năm đi học bình quân được tính bằng tổng số năm đã đi học của dân số từ 15 tuổi trở lên chia cho tổng dân số từ 15 tuổi trở lên.
Số năm đi học kỳ vọng là tổng số năm đi học mà một đứa trẻ từ 05 tuổi trở lên có thể nhận được trong suốt cuộc đời. Giả định rằng xác suất bắt đầu ghi danh đi học tại một độ tuổi bất kỳ của đứa trẻ đó bằng tỷ lệ nhập học của độ tuổi đó. Công thức tính Chỉ số giáo dục được tính như sau: (I năm học x I năm học hi vọng)1/2 - 0 I giáo dục = I đi học max - 0 Trong đó: I năm học : chỉ số năm học bình quân I năm học hi vọng : chỉ số năm học hi vọng bình quân I đi học max : chỉ số đi học các cấp giáo dục cực đại + Ithu nhập (I3): chỉ số thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương. Thu nhập sử dụng GDP bình quân đầu người, mà sử dụng GNI bình quân đầu người theo công thức sau: 11 Trong đó: I3 : Chỉ số thu nhập XGNI max : Mức tối đa của GNI bình quân đầu người XGNI min : Mức tối thiểu của GNI bình quân đầu người XGNI thực : Mức độ thực tế của GNI bình quân đầu người Ln : Phép toán lô – ga – rít cơ số tự nhiên Các chỉ số tuổi thọ, giáo dục, GNI/ người và HDI đều nhận giá trị từ 0 đến 1.
Giá trị của các chỉ số này càng gần tới 1 có nghĩa trình độ phát triển và xếp hạng càng cao, các chỉ số càng gần 0 có nghĩa trình độ phát triển và xếp hạng càng thấp. Chỉ số phát triển con người của một số quốc gia trên thế giới năm 2017 Quốc gia HDI Quốc gia HDI Sincapo 0,927 Nigie 0,351 Nhật Bản 0.901 Việt Nam 0,689 Na uy 0,948 Indonexia 0,691 Thụy Điển 0,929 Ucraina 0,748 Hoa Kì 0,923 Haiti 0,492 Úc 0,936 Ton ga 0,719 Chi Lê 0,843 Bolivia 0,688 Nguồn: CIA - 2017 Trong 187 quốc gia được xếp hạng HDI, thì có 58 quốc gia được xếp hạng rất cao, 54 quốc gia được xếp hạng cao, 38 quốc gia được xếp hạng trung bình và 37 quốc gia xếp hạng thấp. Việt Nam đạt 0,689 (2017) được xếp hạng trung bình và đứng thứ 118 trong tổng số 187 quốc gia được điều tra, tuy chỉ số HDI thấp nhưng tuổi thọ trung bình, tỷ lệ người lớn biết chữ của VIệt Nam khá cao và cao hơn mức trung bình chung của thế giới. Xét trong phạm vi quốc gia thì chỉ số GDP thể hiện sự chênh lệch, phân hóa giàu nghèo giữa các vùng.
Mỗi quốc gia và các vùng lãnh thổ chỉ số nghèo khổ có 12 sự khác nhau tuy nhiên theo Ngân hàng thế giới thì mức nghèo khổ được thể hiện qua thu nhập dưới 2 USD/ngày. Chính điều này dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Trong một nước, sự phân hóa giàu nghèo này được thể hiện rõ qua nhóm dân cư thành thị vơi nhóm dân cư nông thôn. Chỉ số về kinh tế * Thu nhập bình quân theo đầu người Đây là một trong những chỉ tiêu để đánh giá CLCS, và theo mỗi quốc gia có thể lựa chọn các chỉ tiêu như thu nhập quốc dân tính theo đầu người (GNP/người hay GNI/người) hoặc tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân theo đầu người (GDP/người).
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product) viết tắt là GDP: là tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bên trong một quốc gia, không phân biệt do người trong nước hay người nước ngoài làm ra ở một thời kì nhất định, thường là một năm. GDP/ người thể hiện sự phồn vinh hay tình trạng phát triển kinh tế của một quốc gia. Tổng thu nhập quốc dân (Gross National Inome) viết tắt là GNI: là tổng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cuối cùng được tạo ra của một quốc gia ở một thời điểm nhất định, thường là một năm… Được sử dụng trong tính HDI từ sau năm 2010. Tuy nhiên, GDP/người chưa phản ánh chính xác CLCS dân cư.
Các nước đang phát triển GDP/người thường lớn hơn GNI/ người. Vì các nước này nhận được vốn đầu tư của nước ngoài nhiều, nên phần giá trị lớn của công ty đầu tư nước ngoài được tính gộp vào GDP. Vì vậy, cần phải tính GNP/người hay GNI/người sẽ thấy rõ hơn sự chênh lệch chính xác hơn CLCS dân cư giữa các vùng. Ngoài GDP/người và GNI/người được tính theo tỷ giá hối đoái tức USD, LHQ còn đưa ra phương pháp tính thu nhập của dân cư theo sức mua tương đương (PPP).
Chỉ số này được sử dụng nhằm tránh sự sai lệch về mức sống thực tế ở các vùng, các nước khác nhau. GDP bình quân đầu người của một số quốc gia năm 2017 Dân số GDP/ người/năm Quốc gia Triệu người Tốc độ gia tăng (%) (USD) Hoa Kì 326.163 1,03 7510 Ấn Độ 1,281,935,911 1,26 7200 Trung Quốc 1.552 1,08 13400 Nguồn: CIA - 2017 Tính đến 2017, dân số Việt Nam đứng thứ 15 trên thế giới, tốc độ gia tăng dân số đang có xu hướng giảm nhưng vẫn còn ở mức cao so với các nước phát triển trên thế giới. GDP bình quân theo đầu người nằm ở vị trí khoảng 127/193 quốc gia và vùng lãnh thổ.