Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Vốn mạo hiểm – kênh huy động vốn cho doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Nghiêm Thái Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt, tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (năm 2011), thuộc chuyên ngành Kinh tế Tài chính - Ngân hàng, mã số chuyên ngành 60.12. Văn bản có độ dài 159 trang, bao gồm phần mở đầu, kết luận, 3 chương nội dung, 22 hình vẽ và 12 bảng biểu.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu cung ứng vốn cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Tại thời điểm nghiên cứu, vai trò cung ứng vốn chính cho nền kinh tế thuộc về hệ thống ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, do bản chất hoạt động thận trọng và các quy định thẩm định chặt chẽ, đặc biệt là yêu cầu tài sản thế chấp, hệ thống ngân hàng không thể đáp ứng thỏa đáng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp trẻ, doanh nhân khởi sự có ý tưởng kinh doanh sáng tạo nhưng thiếu tài sản bảo đảm. Khu vực kinh tế tư nhân, trong đó đa phần là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), có số lượng gia tăng nhanh chóng khiến nhu cầu vốn ngày càng cấp bách. Vốn mạo hiểm (VMH) được xem là giải pháp cấp vốn bổ khuyết hữu hiệu dựa trên tiềm năng tăng trưởng của ý tưởng thay vì tài sản vật chất. Dù dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (trong giai đoạn đầu được nhận diện là vốn mạo hiểm) đã hiện diện tại Việt Nam từ đầu thập niên 1990, sự hiểu biết về loại hình này còn hạn chế, thị trường còn non trẻ và tồn tại nhiều rào cản vận hành. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, bối cảnh kinh tế đặt ra yêu cầu cấp bách phải khơi thông dòng vốn và nhận diện đầy đủ tính hai mặt của vốn mạo hiểm để phục vụ phát triển kinh tế.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ thực tế: các công trình trước đây tại Việt Nam chưa đi sâu phân tích toàn diện các yếu tố thành công và thất bại từ kinh nghiệm quốc tế, đồng thời chưa giải quyết triệt để mối quan hệ cung - cầu vốn mạo hiểm nhằm khơi thông dòng vốn này thành một kênh dẫn vốn thực chất cho doanh nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Đánh giá thực trạng lưu chuyển dòng vốn mạo hiểm tại Việt Nam, thực trạng nhu cầu vốn và việc huy động từ vốn mạo hiểm; phân tích nguyên nhân dẫn đến thành công và những hạn chế của vốn mạo hiểm Việt Nam.
- Khẳng định quan điểm duy trì và phát triển vốn mạo hiểm và hoạt động đầu tư mạo hiểm đúng bản chất, từ đó đề xuất giải pháp để vốn mạo hiểm vận hành, hoạt động tốt ở Việt Nam, phát huy vai trò là kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế đất nước.
Các câu hỏi nghiên cứu được văn bản đánh số cụ thể như sau:
- Vốn mạo hiểm Việt Nam thời gian qua đã hình thành và phát triển như thế nào? Có những thành công và hạn chế gì?
- Yếu tố nào ảnh hưởng đến thị trường vốn mạo hiểm và hoạt động đầu tư mạo hiểm Việt Nam? Tình hình huy động vốn mạo hiểm của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay như thế nào?
- Giải pháp gì để vốn mạo hiểm thực sự là kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các quỹ đầu tư mạo hiểm; các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ tại Việt Nam tính đến tháng 9/2010.
- Phạm vi nghiên cứu: Về nội dung, luận án tập trung vào thực trạng và đánh giá các quỹ chuyên về đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam, không bao gồm các quỹ đầu tư chuyên về chứng khoán hay bất động sản; đồng thời khảo cứu kinh nghiệm đầu tư mạo hiểm tại một số quốc gia (như Hoa Kỳ, các nước Châu Á) để rút ra bài học. Về thời gian, dữ liệu thứ cấp được thu thập từ đầu thập niên 1990 đến tháng 9/2010 (một số chỉ tiêu thị trường chứng khoán chốt mốc tháng 7 và tháng 8/2010).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan, tác giả điểm lại các nghiên cứu quốc tế và trong nước về vốn mạo hiểm:
- Các nghiên cứu quốc tế: Tài liệu của Hiệp hội Đầu tư mạo hiểm Hoa Kỳ (NVCA, 2005) dự báo cơ hội và xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư mạo hiểm ra hải ngoại; báo cáo "Trends in Venture Capital Finance in Developing Countries" của Anthony Aylward (IFC Discussion Paper No. 36) phân tích bản chất vốn mạo hiểm tại các nước đang phát triển; tài liệu BRIE Working Paper 142 (2000) với tiêu đề "Note on Venture Capital" phân tích cơ cấu tổ chức mô hình quỹ mạo hiểm Hoa Kỳ; tài liệu của Hiệp hội Vốn cổ phần tư nhân và Vốn mạo hiểm Châu Âu (EVCA); các nghiên cứu đăng tải trên Asia Journal Venture Capital (AJVC) và tài liệu Venture in APEC economies. Các tài liệu này đều chỉ ra rằng đo lường định lượng cụ thể tác động của vốn mạo hiểm đối với tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của khối DNNVV vẫn là vấn đề phức tạp, chưa có sự thống nhất hoàn toàn về phương thức đo lường.
- Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam: Nghiên cứu thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm của Mekong Private Sector Development Facility (MPDF, 2000); đề tài của Nguyễn Như Ánh (2004) về "Huy động và mở rộng quy mô vốn mạo hiểm nội địa tại Việt Nam"; luận văn của Trần Văn Hoàng (2005) về "Hoàn thiện và hỗ trợ cho quỹ đầu tư mạo hiểm công nghệ cao Việt Nam"; nghiên cứu của Nguyễn Xuân Tiến (2008) về "Một số giải pháp nhằm thu hút và phát huy hiệu quả vốn đầu tư mạo hiểm Việt Nam"; nghiên cứu trước đó của chính tác giả Nguyễn Nghiêm Thái Minh (2004) về vận dụng và phát triển vốn mạo hiểm, cùng bài báo khoa học đã công bố của tác giả: Nguyễn Nghiêm Thái Minh (2005), "Vốn mạo hiểm và vai trò cung ứng vốn cho mục tiêu phát triển của Việt Nam", Tạp chí Phát triển Kinh tế, số 173, trang 48-50.
Điểm đồng thuận của các công trình trong nước là đều khẳng định bản chất của vốn mạo hiểm, phân tích kinh nghiệm quốc tế và nhấn mạnh giải pháp phát triển vốn mạo hiểm thông qua tác động tích cực đến thị trường chứng khoán.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án này lựa chọn giải quyết gồm hai vấn đề chính:
- Thứ nhất, việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế ở các nghiên cứu trước chưa đi sâu phân tích toàn diện các yếu tố dẫn đến thành công lẫn thất bại để đúc kết bài học sát hợp với Việt Nam.
- Thứ hai, các nghiên cứu chưa giải quyết triệt để mối quan hệ cung - cầu vốn mạo hiểm tại thị trường nội địa, dẫn đến dòng vốn chưa thể khơi thông thông suốt để trở thành kênh dẫn vốn cho doanh nghiệp trong bối cảnh tái lập cân đối kinh tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý thuyết, luận án tiếp cận định nghĩa được thừa nhận rộng rãi: Vốn mạo hiểm là khoản đầu tư do những tổ chức chuyên môn thực hiện đối với những doanh nghiệp tăng trưởng cao, rủi ro cao và thường có công nghệ cao đang cần vốn cổ phần để tài trợ cho phát triển sản phẩm hoặc tăng trưởng. Quỹ đầu tư mạo hiểm (ĐTMH) là định chế tài chính trung gian chuyên đầu tư vào các doanh nghiệp mới khởi sự, doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao nhằm đạt được mức gia tăng thu nhập cao hơn mức bình quân để bù đắp rủi ro của khoản đầu tư. Khung pháp lý tham chiếu trong nước gồm Nghị định số 99/2003/NĐ-CP ngày 28/8/2003 của Chính phủ ban hành Quy chế Khu công nghệ cao, xác định quỹ ĐTMH là tổ chức tài chính thành lập theo pháp luật để đầu tư vào hoạt động ươm tạo công nghệ cao và doanh nghiệp công nghệ cao.
Luận án phân loại quỹ ĐTMH dựa trên ba tiêu chí:
- Nguồn vốn huy động: Quỹ tập thể (quỹ công chúng) huy động qua phát hành chứng chỉ quỹ rộng rãi; Quỹ cá nhân (quỹ thành viên) huy động qua phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ nhà đầu tư định chế hoặc tập đoàn lớn.
- Cấu trúc huy động vốn: Quỹ dạng đóng (chỉ huy động một lần, chứng chỉ quỹ sau đó niêm yết trên thị trường chứng khoán, không mua lại chứng chỉ quỹ) và Quỹ dạng mở (liên tục phát hành và mua lại chứng chỉ quỹ theo giá trị tài sản ròng, không niêm yết).
- Cơ cấu tổ chức và hoạt động: Mô hình hợp danh hữu hạn (Limited Partnership) và Mô hình hợp đồng tín thác (quỹ dạng hợp đồng không có tư cách pháp nhân, do công ty quản lý quỹ điều hành và có ngân hàng giám sát tài sản).
Quy trình cấp vốn mạo hiểm cho doanh nghiệp được tác giả xác định gồm 4 bước kế tiếp nhau:
- Lập bản kế hoạch kinh doanh.
- Hội nghị (tiếp xúc, trao đổi ban đầu).
- Thẩm định chi tiết.
- Xác lập điều kiện và giải ngân tài trợ.
Bên cạnh đó, tác giả sử dụng khung phân tích tính hai mặt của dòng vốn mạo hiểm: một mặt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tài trợ sáng chế công nghệ và chia sẻ rủi ro quản trị; mặt khác dòng vốn gián tiếp này tiềm ẩn nguy cơ đảo chiều dòng vốn nhanh chóng, gây nhạy cảm đối với hệ thống tài chính quốc gia.
Về phương pháp và thiết kế nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu được chia làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (Nghiên cứu định tính): Nghiên cứu lý luận và thực tiễn dựa trên dữ liệu thứ cấp từ các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học trong và ngoài nước, văn bản quy phạm pháp luật nhằm chuẩn hóa khái niệm, xác định các nhân tố tác động đến dòng vốn mạo hiểm, hiệu chỉnh nội dung bảng câu hỏi và xây dựng thang đo thích hợp.
- Giai đoạn 2 (Thống kê mô tả): Sử dụng phiếu điều tra khảo sát ý kiến trực tiếp từ các doanh nghiệp và ngân hàng nhằm đánh giá mức độ hiểu biết, nhu cầu vốn, khả năng tiếp cận vốn mạo hiểm và những khó khăn trong quá trình huy động vốn.
- Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Tổng cục Thống kê, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước, Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu (WEF), Cơ sở dữ liệu Doing Business của Ngân hàng Thế giới, báo chí và các tổ chức nghiên cứu chuyên ngành, bao quát từ thập niên 1990 đến tháng 9/2010.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua phiếu hỏi ý kiến điều tra khảo sát gửi tới doanh nghiệp (đặc biệt là DNNVV, doanh nghiệp công nghệ cao) và ngân hàng, sử dụng thang điểm đánh giá mức độ ưu tiên từ 1 đến 4 (1 là mức ưu tiên cao nhất, 4 là mức ưu tiên thấp nhất) và tính tỷ lệ phần trăm đồng ý.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận tổng quan về vốn mạo hiểm
Chương 1 hệ thống hóa bản chất của vốn mạo hiểm, phương thức đầu tư, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành quỹ mạo hiểm, đồng thời phân tích tính hai mặt của dòng vốn này đối với nền kinh tế và đúc kết bài học kinh nghiệm quốc tế.
Tác giả chỉ rõ ưu thế của vốn mạo hiểm so với tín dụng ngân hàng truyền thống: không đòi hỏi tài sản thế chấp khắt khe, chấp nhận tài trợ cho các ý tưởng kinh doanh dựa trên tài sản vô hình và tiềm năng phát triển, đồng thời nhà đầu tư mạo hiểm trực tiếp đồng hành, tư vấn chiến lược và hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị cho doanh nghiệp. Cơ chế hoạt động của quỹ trải qua ba giai đoạn: huy động vốn, thực hiện đầu tư và thoái vốn.
Về mô hình tổ chức, luận án so sánh mô hình hợp danh hữu hạn và mô hình hợp đồng tín thác. Trong mô hình hợp danh hữu hạn chuẩn mực tại Hoa Kỳ (tham khảo nghiên cứu BRIE Working Paper 142, 2000), cơ cấu vận hành có sự phân định rõ ràng:
- Công ty quản lý quỹ đóng vai trò thành viên hợp danh thường trực (General Partner), chịu trách nhiệm điều hành, nhận phí quản lý thường niên từ 1% đến 5% (thông thường từ 2% đến 3%) trên tổng giá trị quỹ và được hưởng 20% đến 30% trên tổng giá trị thặng dư lợi nhuận sau khi thoái vốn.
- Các nhà đầu tư đóng vai trò thành viên hợp danh hữu hạn (Limited Partner), góp vốn và chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp, nhận phân phối lợi nhuận một lần bằng tiền mặt hoặc chứng khoán sau khi thoái vốn, không tham gia điều hành trực tiếp.
Chương này cũng tổng hợp kinh nghiệm phát triển đầu tư mạo hiểm tại các quốc gia như Hoa Kỳ, một số nước Châu Âu, Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ. Bài học rút ra cho Việt Nam nhấn mạnh vai trò kiến tạo ban đầu của chính phủ thông qua vốn mồi và hành lang pháp lý, tầm quan trọng của thị trường chứng khoán phát triển làm kênh thoái vốn thuận lợi, cùng yêu cầu phát triển đội ngũ quản lý quỹ chuyên nghiệp nhằm giảm thiểu rủi ro hoạt động.
Chương 2: Thực trạng vốn mạo hiểm tại Việt Nam
Chương 2 trình bày quá trình hình thành dòng vốn mạo hiểm tại Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2009, chia thành ba giai đoạn phát triển cụ thể:
- Giai đoạn trước năm 1998: Phương thức đầu tư hỗn hợp trực tiếp và gián tiếp. Quy mô vốn gián tiếp đạt 12 triệu USD năm 1991, 22 triệu USD năm 1993, 114 triệu USD năm 1995 và 157 triệu USD năm 1997. Tỷ trọng vốn mạo hiểm đúng bản chất (hiểu theo nghĩa hẹp) trong giai đoạn này bằng 0.
- Giai đoạn 1998-2005: Quy mô vốn đạt 130 triệu USD năm 1999, 131 triệu USD năm 2001, 247 triệu USD năm 2003 và 280 triệu USD năm 2005. Các quỹ đầu tư thận trọng hơn nhưng dòng vốn vẫn chưa thực sự mang tính chất mạo hiểm đúng nghĩa.
- Giai đoạn từ sau năm 2005 đến năm 2009: Quy mô vốn gián tiếp đạt đỉnh 485 triệu USD vào năm 2007 và duy trì ở mức 410 triệu USD các năm 2008-2009. Đã hình thành sự phân loại quỹ theo chức năng hoạt động với sự xuất hiện của các quỹ chuyên về mạo hiểm như IDG Ventures Vietnam, DFJ (do Dragon Capital quản lý) hay MEF (do Mekong Capital quản lý). Tuy nhiên, các quỹ này vẫn tập trung vào giai đoạn phát triển sau, tái cấu trúc hoặc doanh nghiệp đã có doanh thu ổn định, chưa thực sự rót vốn mạo hiểm vào giai đoạn khởi sự ban đầu.
| Năm | Quy mô vốn gián tiếp, vốn mạo hiểm (triệu USD) |
|---|---|
| 1991 | 12 |
| 1993 | 22 |
| 1995 | 114 |
| 1997 | 157 |
| 1999 | 130 |
| 2001 | 131 |
| 2003 | 247 |
| 2005 | 280 |
| 2007 | 485 |
| 2008 | 410 |
| 2009 | 410 |
Luận án trích xuất các chỉ tiêu năng lực cạnh tranh của Việt Nam từ Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu (WEF) năm 2008 và 2010 để đánh giá môi trường hoạt động của vốn mạo hiểm:
| Chỉ tiêu xếp hạng yếu của Việt Nam | Xếp hạng năm 2008 | Xếp hạng năm 2010 |
|---|---|---|
| Mức độ bảo vệ nhà đầu tư | 123 | 133 |
| Trở ngại cho sở hữu nước ngoài | 104 | 114 |
| Trình độ của thị trường tài chính | 106 | 65 |
| Chuẩn mực báo cáo và kiểm toán | 106 | 119 |
| Gánh nặng về quy chế nhà nước | 105 | 120 |
| Chỉ tiêu xếp hạng mạnh của Việt Nam | Xếp hạng năm 2008 | Xếp hạng năm 2010 |
|---|---|---|
| Huy động vốn trong nước từ cổ phiếu | 5 | 35 |
| Tham gia của lao động nữ | 10 | 20 |
| Hiệu quả giữa lương và năng suất | 17 | 4 |
| Tỷ lệ tiết kiệm trong nước | 28 | 17 |
| Năng lực sáng tạo | 41 | 49 |
| Quy mô thị trường trong nước | 42 | 39 |
Về lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT), văn bản trích dẫn vị trí của Việt Nam năm 2008: Xếp hạng Kinh tế tri thức (KI/KEI của World Bank) đứng thứ 96/140 nước; Chỉ số sẵn sàng kết nối (NRI của WEF) đứng thứ 73/127; E-Readiness (EIU) xếp thứ 65/70; E-Government Index (UNPAN) xếp thứ 91/182; Tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm (BSA & IDC) đứng thứ 10/108 nước. Về chỉ số bảo vệ nhà đầu tư (thang điểm 0-10 của Doing Business), Việt Nam so với khu vực đạt mức thấp hơn: Lào (1,7), Timor-Leste (4,0), Brunei (4,3), Trung Quốc (5,0), Đài Loan (5,9).
Đánh giá thực trạng từ phía cầu, số lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Việt Nam tăng trưởng từ 35.004 doanh nghiệp năm 2000 lên 412.000 doanh nghiệp năm 2009. Theo dữ liệu từ Vụ Tín dụng Ngân hàng Nhà nước, có khoảng 50% DNNVV có quan hệ tín dụng với ngân hàng và vốn vay ngân hàng chiếm 45,31% trong tổng nguồn vốn hoạt động của các doanh nghiệp này.
Kết quả điều tra khảo sát của tác giả đối với doanh nghiệp và ngân hàng cung cấp các số liệu thực tế về hành vi huy động vốn:
| Kênh huy động vốn của doanh nghiệp | Điểm số ưu tiên (thang 1 - 4) |
|---|---|
| Vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng | 1,00 |
| Huy động từ đối tác, doanh nghiệp khác | 2,75 |
| Phát hành trái phiếu | 3,50 |
| Phát hành cổ phiếu | 3,80 |
| Quỹ đầu tư mạo hiểm | 3,86 |
Ghi chú: Thang điểm từ 1 đến 4, với 1 là mức ưu tiên cao nhất, 4 là mức ưu tiên thấp nhất.
| Khó khăn doanh nghiệp thường gặp khi huy động vốn | Điểm số đánh giá (thang 1 - 4) |
|---|---|
| Tài sản thế chấp | 1,58 |
| Lãi suất ngân hàng khá cao | 2,40 |
| Thẩm định về tình hình tài chính, kết quả hoạt động | 2,56 |
| Còn tồn tại sự phân biệt đối với công ty tư nhân | 2,91 |
Ghi chú: Thang điểm từ 1 đến 4, với 1 là trở ngại lớn nhất, 4 là trở ngại thấp nhất.
Về nguyên nhân khiến doanh nghiệp khó tiếp cận vốn mạo hiểm, kết quả khảo sát phản ánh tỷ lệ đồng ý tập trung vào các yếu tố: doanh nghiệp chưa hiểu biết về vốn mạo hiểm và quỹ đầu tư mạo hiểm; thiếu thông tin về quỹ; e ngại mất quyền kiểm soát và điều hành doanh nghiệp; không biết cách trình bày kế hoạch kinh doanh hiệu quả; đội ngũ quản lý và phương thức quản trị chưa đáp ứng chuẩn mực của quỹ; quy mô doanh nghiệp quá nhỏ; thiếu dự án hoặc ý tưởng kinh doanh có hiệu quả kinh tế vượt trội.
Chương 3: Giải pháp phát triển kênh huy động vốn mạo hiểm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính
Chương 3 xác định quan điểm phát triển vốn mạo hiểm tại Việt Nam là gia tăng cả số lượng và chất lượng, định hướng đầu tư dài hạn, khuyến khích quỹ hoạt động đúng bản chất thay vì đầu cơ lướt sóng chứng khoán. Sau khủng hoảng tài chính, các quỹ có xu hướng thắt chặt tiêu chuẩn thẩm định, đòi hỏi tính khả thi cao hơn về khả năng sinh lời và thu hồi vốn. Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:
- Nhóm giải pháp từ phía Chính phủ:
- Hoàn thiện môi trường thể chế và cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư mạo hiểm; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, tăng cường bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư và minh bạch hóa thông tin thị trường.
- Thiết kế chương trình hỗ trợ của Chính phủ nhằm tăng quy mô vốn mạo hiểm: áp dụng biện pháp đầu tư vốn mồi trực tiếp từ ngân sách nhà nước; quy định các điều kiện ràng buộc và giới hạn đầu tư; định hướng vào các lĩnh vực ưu tiên như chăm sóc sức khỏe, công nghệ cao, công nghệ nano và sản phẩm thân thiện môi trường; phát triển các vườn ươm doanh nghiệp; ban hành chính sách ưu đãi thiết thực về thuế thu nhập doanh nghiệp và chi phí hoạt động; hoàn thiện chính sách thu hút quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài.
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư mạo hiểm (Bên cung vốn):
- Đối với quỹ nước ngoài: tiếp tục tạo điều kiện lưu chuyển vốn và tháo gỡ rào cản hành chính.
- Hình thành quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa: Đề xuất áp dụng mô hình tổ chức và hoạt động theo hình thức hợp danh hữu hạn; xác định đối tượng nhà đầu tư tiềm năng nhất để thành lập quỹ là các quỹ bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm (sử dụng một phần nguồn vốn nhàn rỗi theo danh mục đầu tư chuyên môn hóa và phân bổ tỷ lệ hợp lý đúng quy định). Cơ cấu danh mục đầu tư khuyến nghị cho quỹ ĐTMH nội địa được tác giả đề xuất cụ thể:
| Lĩnh vực đầu tư | Tỷ trọng đề xuất (%) |
|---|---|
| Công nghệ cao, công nghệ thông tin | 45 |
| Chăm sóc sức khỏe | 25 |
| Công nghệ mới | 20 |
| Hàng hóa, dịch vụ thân thiện môi trường | 10 |
- Nhóm giải pháp từ phía doanh nghiệp (Bên cầu vốn):
- Hoàn thiện kỹ năng lập bản kế hoạch kinh doanh theo cấu trúc tiêu chuẩn: tóm tắt dự án và thị trường mục tiêu; mô tả hiện trạng công ty, năng lực đội ngũ lãnh đạo và các khó khăn cần trợ giúp; làm rõ các yếu tố tạo nên thành công (nhân lực, bằng sáng chế, kết quả khảo sát thị trường); minh bạch tình hình tài chính và xác định cụ thể quy mô, thời gian của nhu cầu tài trợ.
- Nâng cao kiến thức và chủ động tìm hiểu tiêu chí, thủ tục đầu tư của các quỹ ĐTMH.
- Nâng cao năng lực và chuẩn hóa kỹ năng quản lý chuyên nghiệp của đội ngũ điều hành.
- Nhóm giải pháp hỗ trợ:
- Tăng cường quảng bá hình ảnh Việt Nam và cung cấp thông tin thị trường cho nhà đầu tư quốc tế.
- Đào tạo nguồn nhân lực quản lý điều hành quỹ, ngân hàng giám sát và công ty quản lý quỹ.
- Gia tăng đầu tư cho giáo dục và hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D).
- Ban hành chính sách khuyến khích thành lập mới doanh nghiệp khởi nghiệp trong giới khoa học và giảng viên các trường đại học.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn được tác giả nêu rõ trong luận án:
- Về mặt lý luận và đánh giá thực tiễn: Luận án đã phân tích toàn diện thực trạng dòng vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam từ đầu thập niên 1990 đến năm 2010. Kết quả nghiên cứu khẳng định tại thời điểm nghiên cứu, Việt Nam chưa có quỹ đầu tư mạo hiểm đúng bản chất (dù có quỹ mang tên gọi hoặc định hướng mạo hiểm nhưng thực chất hoạt động như quỹ đầu tư gián tiếp FII hoặc quỹ vốn tư nhân, ưu tiên doanh nghiệp đã định hình hoạt động và tránh rủi ro khởi sự).
- Về mặt quan điểm và giải pháp: Luận án khẳng định quan điểm nhất quán về việc phát triển vốn mạo hiểm chọn lọc và đúng bản chất. Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết nối hai chiều cung - cầu nhằm đưa vốn mạo hiểm trở thành kênh huy động vốn khả thi cho khối DNNVV giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính. Trong đó, các đề xuất cụ thể gồm có: áp dụng mô hình tổ chức hợp danh hữu hạn cho quỹ nội địa; kiến nghị cơ chế cho phép các tổ chức bảo hiểm sử dụng vốn nhàn rỗi đầu tư vào quỹ mạo hiểm; xác lập cơ cấu ngành đầu tư cụ thể (tập trung 45% cho công nghệ cao - CNTT và 25% cho chăm sóc sức khỏe); đồng thời đưa ra khung hướng dẫn xây dựng bản kế hoạch kinh doanh chuẩn mực cho doanh nghiệp tiếp cận quỹ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát sơ cấp chốt mốc thời gian đến tháng 8 và tháng 9 năm 2010, phản ánh bối cảnh kinh tế ngay sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.
- Thị trường vốn mạo hiểm tại Việt Nam thời điểm khảo sát còn rất non trẻ, số lượng quỹ chuyên biệt hoạt động thực tế rất ít (chủ yếu là một vài quỹ ngoại như IDG Ventures, DFJ), dẫn đến dung lượng mẫu khảo sát và số liệu thực chứng về quỹ nội địa còn chịu giới hạn do chưa có quỹ mạo hiểm nội địa vận hành đúng bản chất để đối chiếu.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Luận án định hướng các nghiên cứu tiếp theo cần theo dõi sự hình thành và vận hành thực tế của các quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa khi khung khổ pháp lý về hợp danh hữu hạn được ban hành đầy đủ.
- Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế và các phương thức thoái vốn (như IPO, sáp nhập - mua lại) trên thị trường chứng khoán Việt Nam khi thị trường này phát triển hoàn thiện hơn trong các giai đoạn kinh tế tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng có thể tham khảo Chương 1 về khung lý thuyết mô hình quỹ hợp danh hữu hạn, quy trình cấp vốn 4 bước và Chương 2 về chuỗi số liệu vốn gián tiếp/vốn mạo hiểm giai đoạn 1991-2009 tại Việt Nam.
- Các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Khoa học và Công nghệ, Ngân hàng Nhà nước) có thể sử dụng các phân tích tại Chương 2 và Chương 3 để tham khảo xây dựng hành lang pháp lý cho quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa, hoàn thiện quy định bảo vệ nhà đầu tư và thiết kế các chính sách thuế, vốn mồi hỗ trợ DNNVV.
- Các nhà quản trị doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghệ cao có thể ứng dụng trực tiếp hướng dẫn tại Chương 3 để hoàn thiện cấu trúc bản kế hoạch kinh doanh và chuẩn hóa quy trình tiếp cận các quỹ đầu tư mạo hiểm.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại thời điểm nghiên cứu (năm 2010), các quỹ đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam có thực sự hoạt động đúng bản chất mạo hiểm không?
Theo kết luận của luận án, tại Việt Nam giai đoạn này chưa có quỹ đầu tư mạo hiểm hoạt động đúng bản chất. Mặc dù một số quỹ có tên gọi và định hướng đầu tư mạo hiểm (tiêu biểu như IDG Ventures Vietnam hay DFJ), bản chất dòng vốn này tại Việt Nam vẫn thuộc về vốn đầu tư gián tiếp (FII). Các quỹ vẫn giữ tâm lý dè dặt, chưa thực sự chấp nhận rủi ro ở giai đoạn khởi nghiệp sơ khai của doanh nghiệp mà chủ yếu lựa chọn đầu tư vào các công ty đã có mô hình kinh doanh ổn định hoặc tham gia vào quá trình tái cấu trúc ở giai đoạn sau.
2. Mức độ ưu tiên của doanh nghiệp Việt Nam đối với kênh vốn mạo hiểm so với các kênh huy động vốn khác theo khảo sát thực tế như thế nào?
Theo kết quả khảo sát bằng thang điểm từ 1 đến 4 (1 là mức ưu tiên cao nhất, 4 là mức ưu tiên thấp nhất), quỹ đầu tư mạo hiểm là lựa chọn cuối cùng của doanh nghiệp với điểm số 3,86. Thứ bậc ưu tiên lần lượt là: Vay ngân hàng và tổ chức tín dụng (1,00); Huy động từ đối tác, doanh nghiệp khác (2,75); Phát hành trái phiếu (3,50); Phát hành cổ phiếu (3,80); và Quỹ đầu tư mạo hiểm (3,86).
3. Khó khăn lớn nhất mà doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp phải khi huy động vốn qua ngân hàng thương mại là gì?
Kết quả khảo sát xác định yêu cầu về tài sản thế chấp là khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp với điểm số trở ngại 1,58 (thang điểm 1-4, với 1 là mức cản trở cao nhất). Tiếp theo là các yếu tố lãi suất ngân hàng khá cao (2,40), việc thẩm định tình hình tài chính và kết quả hoạt động (2,56), và sự phân biệt đối xử đối với công ty tư nhân (2,91).
4. Tác giả đề xuất cơ cấu ngành và tỷ trọng phân bổ vốn đầu tư cho quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa như thế nào?
Luận án đề xuất cơ cấu danh mục đầu tư cụ thể cho quỹ mạo hiểm nội địa gồm 4 lĩnh vực: Công nghệ cao và công nghệ thông tin chiếm tỷ trọng lớn nhất với 45%; Chăm sóc sức khỏe chiếm 25%; Công nghệ mới chiếm 20%; Hàng hóa và dịch vụ thân thiện với môi trường chiếm 10%.
5. Mô hình tổ chức nào được luận án khuyến nghị áp dụng để thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm nội địa tại Việt Nam?
Tác giả đề xuất áp dụng mô hình quỹ đầu tư mạo hiểm theo hình thức hợp danh hữu hạn (Limited Partnership). Trong mô hình này, công ty quản lý quỹ đóng vai trò là thành viên hợp danh thường trực chịu trách nhiệm điều hành, còn các nhà đầu tư (tiềm năng nhất là các quỹ bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi hợp pháp) đóng vai trò là thành viên hợp danh hữu hạn tham gia góp vốn và chia sẻ lợi nhuận sau thoái vốn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Nghiêm Thái Minh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về vốn mạo hiểm, phân tích cơ chế vận hành của mô hình quỹ hợp danh hữu hạn và đánh giá thực trạng dòng vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam từ năm 1991 đến tháng 9/2010. Kết quả khảo sát thực chứng đã chỉ rõ các điểm nghẽn trong quan hệ cung - cầu vốn, khi các quỹ hiện diện chưa vận hành đúng bản chất mạo hiểm và doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn xếp kênh vốn này ở mức ưu tiên thấp nhất do thiếu hiểu biết và hạn chế kỹ năng lập dự án. Trên cơ sở nhận diện bối cảnh hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ bao gồm hoàn thiện khung pháp lý hợp danh hữu hạn, huy động nguồn vốn từ ngành bảo hiểm, thiết lập danh mục đầu tư tập trung vào công nghệ cao và nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp nhằm khơi thông dòng vốn mạo hiểm phục vụ tăng trưởng kinh tế.