Chương 1: Giới thiệu chung Trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài. - Chương 2: Cơ sở lý thuyết về vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán. Đưa ra các lý thuyết liên quan và các nghiên cứu đã được thực hiện để hình thành mô hình nghiên cứu và các giả thiết nghiên cứu. - Chương 3: Thực trạng về vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán của các NHTM Việt Nam Nêu tóm tắt thực trạng vốn chủ sở hữu và một số chỉ tiêu hoạt động cơ bản của các NHTM Việt Nam những năm gần đây.
- Chương 4: Mô hình nghiên cứu và Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Nêu lên trình tự các bước và phương pháp thực hiện nghiên cứu. Ước tính số lượng mẫu cần thu thập. Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán tại các NHTMViệt Nam. - Chương 5: Kết luận và góp ý Đưa ra các góp ý để phòng ngừa với rủi ro mất khả năng thanh toán có thể xảy ra trong tương lai và kết luận chung.
8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ RỦI RO MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN 2. Giới thiệu chương. Chương 2 nhằm mục đích giới thiệu các lý thuyết về vốn chủ sở hữu và rủi ro mất khả năng thanh toán tại NHTM và giới thiệu mô hình nghiên cứu. Chương này gồm các phần chính sau: (1): Lý thuyết vốn chủ sở hữu tại NHTM; (2): Lý thuyết về rủi ro mất khả năng thanh toán tại NHTM; (3) Tác động của vốn chủ sở hữu tới rủi ro mất khả năng thanh toán; (4) Lược khảo các nghiên cứu liên quan.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Thương mại.Rose (2012), đối với người làm ngân hàng và các đối thủ của họ vốn chủ sở hữu có một ý nghĩa đặc biệt. Vốn chủ sở hữu là nguồn tiền được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng, bao gồm chủ yếu là cổ phiếu, các khoản dự trữ và lợi nhuận không chia. Cũng theo Peter S.
Rose (2012), vốn chủ sở hữu đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh hằng ngày và đảm bảo cho hoạt động trong dài hạn của một tổ chức tài chính. Vốn chủ sở hữu của NHTM là nguồn vốn riêng của Ngân hàng do chủ sở hữu đóng góp ban đầu và được bổ sung trong quá trình kinh doanh (Trần Huy Hoàng, 2011). Đối với các NHTM, về cơ bản, theo nghĩa hẹp, vốn chủ sở hữu là khoản tiền mà các cổ đông, các chủ sởhữu đóng góp (vốn thực góp) để được hưởng các thu nhập của ngân hàng trong tương lai. Theo nghĩa rộng, vốn chủ sở hữu ngân hàng được nhìn nhận như các khoản nguồn vốn của chủ ngân hàng dành cho việc hỗ trợ các hoạt động ngân hàng.
Định nghĩa như vậy bao gồm các quỹ dự trữ của ngân hàng và được gọi là nguồn vốn của các cổ đông. Trải qua quá trình hoạt động, vốn chủ sởhữu có thể tích tụ tăng lên hoặc giảm xuống. Tuy nhiên đối với các nhà quản lý Nhà nước, vấn đề về tính đầy đủ của vốn ngân hàng là trọng yếu, đặc biệt sau khi xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến một trong những giải pháp mà 9 chính phủ một số nước hay sử dụng để cứu vãn hệ thống ngân hàng là cứu trợ và quốc hữu hóa, sử dụng nguồn vốn của chính phủ để cứu vãn sự sụp đổ của các ngân hàng. Thành phần vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Thương mại.
Nguồn hình thành vốn chủ sỡ hữu Vốn điều lệ Vốn ban đầu hình thành khi ngân hàng được thành lập, còn gọi là vốn điều lệ, được ghi rõ trong điều lệ hoạt động của tổ chức. Nguồn vốn này có thể được tạo ra bằng nhiều cách, tùy thuộc vào tính chất sở hữu của ngân hàng: Vốn của NHTM Nhà nước do Nhà nước cấp từ ngân sách bằng tiền hoặc trái phiếu chính phủ; của NHTM tư nhân do cá nhân tự đóng góp; của NHTM Liên doanh do các bên tham gia liên doanh đóng góp; của NHTM cổ phần do các cổ đông góp thông qua việc mua cổ phiếu, và được tính theo mệnh giá cổ phiếu. Một số trường hợp, mức vốn điều lệ của mỗi ngân hàng phải tuân thủ theo quy định của các cơ quan quản lý Nhà nước về mức vốn tối thiểu cần đáp ứng đó được gọi là Vốn pháp định. Vốn điều lệ chủ yếu được dùng để mua sắm Tài sản cố định, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của ngân hàng bên cạnh đó còn dùng để góp vốn liên doanh, cho vay, mua cổ phần của các công ty khác,.
Khi ngân hàng đi vào hoạt động, nguồn vốn này có thể đã nằm dưới dạng trụ sở, văn phòng, kho bãi, dự trữ hay ký quỹ tại Ngân hàng Trung ương của các quốc gia. Ngoài ra, vốn điều lệ có thể được tăng thêm, và ngược lại, cũng có thể bị buộc phải điều chỉnh giảm. Vốn hình thành trong quá trình hoạt động Theo Edward (2004), ngân hàng có thể được hưởng thặng dư vốn, phát hành thêm cổ phần, để lại những khoản lợi nhuận tích lũy, các quỹ để bổ sung vốn trong quá trình hoạt động: Thặng dư vốn là phần giá trị thị trường của các cổ phiếu vượt quá mệnh giá mà các cổ đông sẵn sàng trả cho ngân hàng, nguồn vốn này có thể được hình thành khi ngân hàng mới thành lập, hoặc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO), 10 và tiếp tục có khả năng tăng lên khi ngân hàng phát hành cổ phiếu mới ở những lần tiếp theo, hoặc trong quá trình chuyển đổi cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu thường. Vốn bổ sung là nguồn vốn được cấp từ ngân sách Nhà nước hoặc thông qua phát hành cổ phần nhằm mở rộng quy mô hoạt động hoặc tăng cường khả năng chống đỡ với rủi ro.
Ngân hàng có thể xin (hoặc được) cấp thêm vốn ngân sách (còn gọi là tái cấp vốn), hay phát hành thêm cổ phần. Lợi nhuận không chia là vốn của các cổ đông, chủ sở hữu ngân hàng, nhưng đã được vốn hóa để mở rộng quy mô cho vốn chủ sở hữu ngân hàng, tái đầu tư, và trích lập các quỹ. Lợi nhuận không chia được hình thành khi kết thúc mỗi kỳ kinh doanh của ngân hàng, phần lợi nhuận sau thuế sau khi đã bù đắp các khoản chi phí đặc biệt, thường được chia làm hai phần: một phần để chi trả cổ tức cho các cổ đông nắm giữ cổ phiếu của ngân hàng, phần còn lại được bổ sung vào nguồn vốn chủ sở hữu dưới tên gọi Lợi nhuận giữ lại. Các quỹ và khoản dự trữ, trong quá trình hoạt động, các ngân hàng hoặc do tuân theo quy định của Nhà nước, hoặc để đảm bảo hoạt động và đề phòng rủi ro, đều tiến hành trích lập các quỹ dự trữ.
Do quỹ này được trích từ lợi nhuận trước thuế tính chất như một khoản chi phí, nên một số ngân hàng không hạch toán nó vào vốn chủ sở hữu mà vào các khoản nợ. Nếu được liệt kê vào vốn chủ sở hữu, khi tổn thất thực của ngân hàng nhỏ hơn số trích lập, vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ gia tăng, và ngược lại. Quy mô các quỹ và khoản dự trữ phụ thuộc vào tổn thất ròng, thu nhập của ngân hàng, và tỷ lệ trích lập quỹ. Cổ phần ưu đãi có thời hạn và giấy nợ có khả năng chuyển đổi, một số công cụ nợ mang tính chất lưỡng tính như cổ phần ưu đãi có thời hạn, giấy nợ thứ cấp có khả năng chuyển đổi, tín phiếu vốn (khoản chứng khoán nợ chỉ có thể được thanh toán khi phát hành được cổ phiếu mới).
Những công cụ nợ bổ sung này có chung một số đặc điểm với của các công cụ nợ thuộc loại tiết kiệm với kỳ hạn dài, đồng thời lại mang một số đặc điểm của cổ phiếu thường. Việc gia tăng loại vốn này có nhiều ưu điểm đối với quản lý ngân hàng như không làm thay đổi quyền kiểm soát, hạn chế giảm cổ tức,… Chính vì vậy, những công cụ này là một nguồn vốn ổn định 11 trong một khoản thời gian dài cho các ngân hàng, được một số ngân hàng liệt kê vào thành phần của vốn chủ sở hữu. Phân loại theo Hiệp ước Basel Năm 1987, Uỷ ban giám sát ngân hàng Basel (BaselCommittee on Banking Supervision - BCBS) đã soạn thảo những đề xuất cho tiêu chuẩn mới về vốn, áp dụng cho các ngân hàng, tổ chức tài chính nhằm khuyến khích các ngân hàng lớn củng cố trạng thái vốn, hạn chế sự không bình đẳng trong quy định giữa các quốc gia khác nhau và xem xét những rủi ro đối với hoạt động ngoài bảng cân đối kế toán mà các ngân hàng thực hiện trong thời gian gần đó. Năm 1988, đề xuất này chính thức được thông qua dưới cái tên Hiệp ước Basel 1988.
Hiện nay được biết đến như là Basel I, nhằm phân biệt với bản sửa đổi bổ sung Basel II năm 1999. Hiệp ước này được cưỡng chế thi hành theo luật quốc gia của các nước G10 từ năm 1992 và đến nay, hơn 100 nước trên thế giới cũng đã áp dụng những nguyên tắc cơ bản của các đề xuất này. Cũng với những thành phần tương tự như trên, trụ cột thứ 1 của Hiệp ước Basel II, về yêu cầu vốn tối thiểu, phân loại vốn chủ sở hữu của NHTM thành hai lớp phù hợp cho việc đánh giá được tính ổn định và an toàn của nguồn vốn này tại NHTM. Theo đó, vốn chủ sở hữu của NHTM gồm: - Vốn cơ sở hay vốn cấp 1 (Core Capital, hay Tier 1 Capital): là chỉ tiêu cơ bản để đo lường sức mạnh tài chính của ngân hàng nhìn nhận dưới góc độ của các nhà quản lý.
Nguồn vốn này bao gồm những loại vốn tài chính được xem là đáng tin cậy nhất và có tính lỏng cao nhất, thực sự tồn tại, và tương đối ổn định trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng, đảm bảo cho ngân hàng vận hành bình thường. Trọng tâm của phần vốn này bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và lợi nhuận giữ lại. - Vốn bổ sung hay Vốn cấp 2 (Supplemental Capital, hay Tier 2 Capital): là bộ phận vốn chủ sở hữu tăng thêm trong quá trình hoạt động nhằm mở rộng hay đảm bảo an toàn cho các hoạt động của ngân hàng trong quá trình kinh doanh, nhưng chúng ít ổn định hơn vốn cơ sở.