Chương 1 VIỆC LÀM VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG Ở NÔNG THÔN 1. Một số vấn đề chung về việc làm và giải quyết việc làm * Khái niệm việc làm Hoạt động lao động sản xuất là hoạt động gắn liền với con người và xã hội loài người. Trong sự phát triển của mình, con người đã biết lợi dụng thế giới tự nhiên để sản xuất ra những sản phẩm cần thiết nhằm phục vụ cho nhu cầu của bản thân mình. Khi xã hội phát triển, những hoạt động sản xuất nói chung ấy được phân chia thành những ngành nghề cụ thể khác nhau và người lao động đã được phân chia vào làm việc trong những lĩnh vực phù hợp với sở trường và thế mạnh của mình.
Mỗi cá nhân tham gia lao động với những công việc cụ thể nhằm tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và đóng góp cho xã hội. Việc làm được thể hiện trước hết trong các hoạt động lao động sản xuất ở mỗi người lao động. Nếu lao động là hoạt động nói chung của xã hội, phản ánh bản chất của con người thì việc làm là hoạt động cụ thể của mỗi người lao động tham gia vào trong quá trình lao động nói chung ấy. Ở Việt Nam, trước đây, trong cơ chế cũ, việc làm cho người lao động được nhà nước sắp xếp với chế độ biên chế làm việc suốt đời.
Người lao động có việc làm được xã hội coi trọng được thừa nhận là những người làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp của Nhà nước, các đơn vị kinh tế quốc doanh. Với quan niệm nhà nước có trách nhiệm bố trí việc làm cho người lao động và đảm bảo mức thu nhập giúp duy trì đời sống của họ, nên xã hội không thừa nhận hiện tượng thất nghiệp, thiếu việc làm, hay việc làm không đầy đủ. Quan niệm đó tạo ra tâm lý ỷ lại vào nhà nước ở người lao động khi họ cần việc làm. 14 z Khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan niệm trên về việc làm đã thay đổi.
Quan điểm mới về việc làm được thể hiện ở Luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi bổ sung năm 2002. Điều 13, Chương 2 (việc làm) của Luật quy định: "Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Như vậy, việc làm là những hoạt động lao động sản xuất trong tất cả các lĩnh vực cùa đời sống xã hội mang lại thu nhập cho người lao động mà không bị pháp luật ngăn cấm. Quan niệm trên về việc làm hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa người lao động có thể làm bất cứ việc gì, ở bất cứ đâu miễn là không vi phạm pháp luật để mang lại thu nhập cao hơn cho bản thân. Quan niệm trên đã mở ra một hướng mới cho vấn đề giải quyết việc làm, tạo ra một thị trường việc làm phong phú và đa dạng, thu hút nhiều lao động, thực hiện mục tiêu giải phóng triệt để sức lao động và tiềm năng toàn xã hội. Nghiên cứu việc làm cho người lao động trong một quốc gia, một địa phương và trong một thời kỳ nhất định người ta phải quan tâm đến vấn đề việc làm đầy đủ và thiếu việc làm. Thiếu việc làm là tình trạng người lao động không có đủ việc làm theo thời gian quy định trong tuần, trong tháng hoặc là làm những công việc có thu nhập quá thấp không đảm bảo cuộc sống nên có nhu cầu tìm việc làm để tăng thu nhập.
Thực tiễn giải quyết việc làm là phải tạo ra việc làm đầy đủ cho người lao động và cao hơn nữa phải tạo ra việc làm được tự do lựa chọn để thực hiện giải phóng triệt để sức lao động. Việc làm được tự do lựa chọn là sự đáp ứng tối ưu nhất nhu cầu về việc làm cho người lao động. Nó không những đưa lại thu nhập cao cho người lao 15 z động mà còn đưa lại năng suất lao động cao cho xã hội. Việc làm được tự do lựa chọn là sự kết hợp tối ưu sức lao động với các yếu tố khác của sản xuất.
Người lao động có thể lựa chọn công việc phù hợp với nhu cầu vật chất cũng như năng lực sở trường để vừa đảm bảo thu nhập vừa có điều kiện làm phong phú đời sống tinh thần. * Khái niệm thất nghiệp Thực hiện việc làm đầy đủ tiến tới việc làm được lựa chọn cho người lao động là một quá trình phát triển lâu dài. Trong nền kinh tế thị trường tất yếu tồn tại vấn đề thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp là một trong các chỉ tiêu để đánh giá tình trạng của một nền kinh tế.
Người thất nghiệp là người thuộc lực lượng lao động hay dân số hoạt động kinh tế có khả năng làm việc, song hiện đang chưa có việc làm, đồng thời đang mong muốn và đi tìm việc làm. Với cách hiểu như trên, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhưng chưa làm việc đều được coi là thất nghiệp. Do đó một tiêu thức quan trọng để xem xét một người được coi là thất nghiệp thì phải biết được người đó có muốn đi làm hay không. Bởi lẽ, trên thực tế nhiều người có sức khoẻ, có nghề nghiệp song không có nhu cầu làm việc; họ sống chủ yếu dựa vào “nguồn dự trữ” như kế thừa của bố mẹ, nguồn tài trợ.
Trong trường hợp này họ nằm ngoài lực lượng lao động. Như vậy, lực lượng lao động bao gồm những người có việc làm cộng với những người thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp chính là tỷ lệ những người thất nghiệp trong tổng số những người nằm trong lực lượng lao động. Những người thất nghiệp Tỷ lệ thất nghiệp (a) = lực lượng lao động Những người thất nghiệp = Số người có việc làm + Số người thất nghiệp 16 z * Phân loại thất nghiệp.
- Xét về nguồn gốc thất nghiệp có thể chia thành: Thất nghiệp tạm thời: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự di chuyển không ngừng của ngành lao động giữa các vùng, giữa các loại công việc hoặc giữa các giai đoạn khác nhau của cuộc sống. Thất nghiệp cơ cấu: Là loại thất nghiệp xảy ra khi có sự mất cân đối giữa cầu - cung lao động trong một ngành hoặc một vùng nào đó. Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị tổng sản lượng của nền kinh tế gắn liền với chu kỳ kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh doanh, tổng giá trị sản xuất giảm dần, hầu hết các nhà sản xuất giảm sản lượng cầu đối với các đầu vào, trong đó có lao động.
Đối với loại thất nghiệp này, những chính sách nhằm khuyến khích tăng cầu thường mang lại kết quả tích cực. - Xét về tính chủ động của người lao động, thất nghiệp có thể chia thành: Thất nghiệp tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công thị trường nào đó người lao động vẫn không muốn làm việc. Thất nghiệp loại này thường gắn với thất nghiệp tạm thời. Thất nghiệp không tự nguyện: Là loại thất nghiệp mà ở mức tiền công thị trường nào đó người lao động chấp nhận nhưng vẫn không tìm được việc làm do kinh tế suy thoái, cung lớn hơn cầu về lao động.
Ngoài thất nghiệp hữu hình (thất nghiệp tự nguyện và không tự nguyện) còn tồn tại thất nghiệp trá hình: Thất nghiệp trá hình: Là hiện tượng xuất hiện khi người lao động được sử dụng ở dưới mức khả năng mà bình thường người lao động sẵn sàng làm việc. Hiện tượng này xảy ra khi năng suất lao động của một ngành nào đó thấp. Thất nghiệp loại này thường gắn với việc sử dụng không hết thời gian lao động. Xét theo cơ cấu của những người thất nghiệp có thể chia thành: Thất nghiệp theo giới tính: Là loại thất nghiệp của lao động nam (hoặc nữ).
17 z Thất nghiệp chia theo lứa tuổi: Là loại thất nghiệp của một lứa tuổi nào đó trong tổng số lực lượng lao động. Thất nghiệp chia theo vùng lãnh thổ: Là hiện tượng thất nghiệp xảy ra thuộc vùng lãnh thổ (thành thị, nông thôn, đồng bằng, miền núi. Thất nghiệp chia theo ngành nghề: Là loại thất nghiệp xảy ra ở một ngành nghề nào đó. Ngoài các loại thất nghiệp nêu trên, người ta có thể chia thất nghiệp theo dân tộc, chủng tộc, tôn giáo.
* Khái niệm thiếu việc làm: Theo một số chuyên gia về chính sách lao động việc làm thì: Người thiếu việc làm là những người đang làm việc có mức thu nhập dưới mức lương tối thiểu và họ có nhu cầu làm thêm. Từ khái niệm người thiếu việc làm trên có thể hiểu như sau: Người thiếu việc làm là người lao động đang có việc làm nhưng họ làm việc không hết thời gian theo pháp luật quy định hoặc làm những công việc mà tiền lương thấp không đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống, họ muốn tìm thêm việc làm để bổ sung thu nhập. ILO cũng khuyến nghị các nước dùng khái niệm người thiếu việc làm hữu hình (dạng nhìn thấy được) và dạng người thiếu việc làm vô hình (khó xác định). Thiếu việc làm hữu hình: Là khái niệm để chỉ hiện tượng người lao động làm việc có thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm đang tìm kiếm thêm việc làm và sẵn sàng để làm việc.
Tình trạng việc làm hữu hình được biểu thị bởi hàm số sử dụng thời gian lao động như sau: Số giờ làm việc thực tế K= x 100% Số giờ quy định (Tính theo ngày, tháng, năm) 18 z Thiếu việc làm vô hình: Là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu nhập thấp. Nguyên nhân của tình trạng này là do tay nghề hoặc kỹ năng của người lao động thấp không sử dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động tồi, tổ chức lao động kém. Thước đo khái niệm thiếu việc làm vô hình là mức thu nhập thấp hơn mức lương tối thiểu. Tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đến vấn đề việc làm ở khu vực nông thôn 1.
Đặc điểm về lao động, việc làm ở nông thôn * Đặc điểm của việc làm ở nông thôn Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp. Có nhiều loại việc làm diễn ra ở nông thôn, phản ánh tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn.