Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NỮ 1. Câu hỏi nghiên cứu a) Thực trạng về việc làm của lao động nữ ở xã Hòa Định Tây, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên hiện nay như thế nào? b) Tác động của các yếu tố: sự hỗ trợ của chính quyền địa phương; đặc điểm gia đình; đặc điểm cá nhân của lao động nữ đối với vấn đề giải quyết việc làm của lao động nữ như thế nào? c) Lao động nữ có nhu cầu việc làm như thế nào? 1. Giả thuyết nghiên cứu a) Đa số lao động nữ trên địa bàn xã Hòa Định Tây tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, lao động nữ tham gia vào hoạt động sản xuất phi nông nghiệp có số lượng chưa đáng kể. b) Sự hỗ trợ của chính quyền địa phương; đặc điểm gia đình; đặc điểm cá nhân của lao động nữ có tác động rất lớn đến việc giải quyết việc làm của lao động nữ.
c) Lao động nữ làm nông nghiệp có nhu cầu tham gia vào nhiều công việc khác nhau. d) Lao động nữ làm phi nông nghiệp có nhu cầu mở rộng phát triển ngành nghề. Khung phân tích Hệ thống Điều kiện tự Cơ cấu Đặc điểm Đặc điểm cá nhân chính sách nhiên, kinh lao động gia đình (tuổi, sức khỏe, pháp luật tế, văn hóa, nữ ở xã (số con, mức học vấn, tình xã hội của xã sống) trạng hôn nhân) Cơ cấu Chất lượng Việc làm của lao động nữ việc làm việc làm Giải quyết việc làm cho lao động nữ 13 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm. Theo ngành Xã hội nhân chủng học: Việc làm không chỉ bao hàm cái gì được làm, được làm như thế nào, và ai làm mà còn hàm ý việc làm đó được đánh giá như thế nào và ai đánh giá nó. Vì thế, việc làm bao hàm ý nghĩa vật chất, xã hội, văn hóa và tâm lý cá nhân [11, tr. Các thành tố của việc làm Có thể nghiên cứu và đo lường việc làm dựa vào 10 thành tố sau đây: Năng lượng: cần tiêu phí một số năng lượng sức lực hay chất xám để làm chuyển đổi, duy trì, sản xuất một vật hay một việc gì trong một hệ thống nhất định để đạt mục đích đặt ra [11, tr.
Phần thưởng kinh tế và tinh thần: tiền lương và tiền thưởng là mặt kinh tế của việc làm; vị thế xã hội, danh dự cá nhân, quyền hành (quyền trong gia đình và uy tín trong cộng đồng) là phần thưởng về mặt xã hội và tâm lý. Động cơ phần thưởng của việc làm rất khác nhau đối với nam nữ và đối với các bối cảnh làm việc khác nhau (đi làm để kiếm tiền, đi làm để có thêm bạn hoặc thêm kiến thức,…) [11, tr. Tài nguyên: việc làm là sự thực hiện một nhiệm vụ cần thiết nào đó, cần sử dụng một số tài nguyên như vốn, nguyên liệu, tay nghề, thời gian và một số quyền hạn xã hội cho phép để phục vụ đời sống [11, tr. Giá trị: giá trị của việc làm thay đổi tùy theo hoàn cảnh lịch sử, xã hội và cá nhân.
Việc đánh giá một việc làm có hiệu quả, có năng suất, có giá trị tùy thuộc rất nhiều vào quan điểm của người đánh giá. Sự đánh giá này mang tính tương đối [11, tr. Thời gian: giá trị của việc làm thay đổi tùy vào việc đó được làm khi nào? (ví dụ: sản phẩm làm ngoài giờ có giá trị gấp đôi sản phẩm làm trong giờ), vài công việc được làm một cách dễ dàng hơn nhờ có kinh nghiệm (tích lũy theo thời gian) 14 nhưng nhiều việc sẽ trở nên khó làm hơn khi tuổi càng cao. Mặt khác, giá trị thời gian tiêu phí đôi khi không được kể đến trong vài công việc nhưng lại được đánh giá cao trong một số công việc khác (việc nội trợ và cấp dưỡng tại xí nghiệp).
Việc làm nhằm hoàn thành một nghĩa vụ cần thiết không chỉ về mặt kinh tế mà cả mặt xã hội nữa, vì thế giá trị của thời gian phải được kể đến. Nơi làm việc: nhiều giá trị của việc làm được đồng hóa với nơi làm việc (rửa chén tại nhà không được coi trọng như rửa chén tại bếp cơ quan, tại khách sạn; may gia công ở nhà rẻ hơn may trong xí nghiệp) [11, tr. Người lao động: giá trị của việc làm cũng được đánh giá khác nhau do ai là người làm việc ấy. Trong xã hội có một số công việc được xem như là “thích hợp” cho một số người không chỉ vì yêu cầu chuyên môn, tay nghề của họ mà còn do sự giới hạn của phong tục, do bảo vệ đặc quyền đặc lợi của một giai tầng xã hội [11, tr.
Kỹ thuật: công cụ là một khía cạnh của việc làm. Công cụ có kỹ thuật cao thì đỡ tốn kém thời gian, năng lượng và năng suất cao hơn [11, tr. Tâm lý đồng hóa hoặc xa lạ với việc làm: cá nhân hoặc một nhóm người thường đồng hóa mình với vai trò của công việc hoặc một mặt của công việc nào đó. Sự đồng hóa này có liên quan mật thiết đến sự đầu tư cá nhân trong tiến trình hoạt động xã hội.
Nếu đồng hóa toàn tâm với một công việc nào đó quá sẽ sao lãng các vai trò khác và bị căng thẳng, dẫn đến “bệnh nghiện làm việc”. Ngược lại với bệnh “nghiện làm việc” là tâm lý xa lạ với với việc đang làm [11, tr. Sự phân chia lao động theo giới tính: Đó là sự phân công những hoạt động, những vai trò trong xã hội cho nam và nữ. Sự phân chia lao động theo giới tính trong việc làm một phần là do sự khác nhau về cơ hội học hành của nam và nữ.
Nhìn chung phụ nữ ít khi học lên được các cấp học cao. Phụ nữ thường được đào tạo ít hơn nam giới. Một chi tiết mà mọi người đều biết đến để minh họa cho sự không cân đối về giới trong lĩnh vực giáo dục là phụ nữ có khuynh hướng học một số ngành xã hội và thường tránh các ngành khoa học kỹ thuật. Sự lựa chọn ngành 15 học đã ảnh hưởng đến cơ hội hành nghề dành cho phụ nữ.
Sự bất lợi trong nghề nghiệp của phụ nữ có liên quan chặt chẽ đến vai trò của phụ nữ trong gia đình. Khi gánh nặng lao động trong nhà rơi lên vai phụ nữ thì họ sẽ bị giới hạn trong việc lựa chọn nghề nghiệp [11, tr. Do khuôn khổ hạn chế của học viên cao học, trong luận văn này khi phân tích việc làm của lao động nữ tác giả tập trung vào những khía cạnh: tần suất tham gia lao động của lao động nữ, thời gian tham gia lao động, thu nhập từ hoạt động lao động, nơi làm việc của lao động nữ và những khó khăn trong lao động của lao động nữ. Giải quyết việc làm 1.
Khái niệm Giải quyết việc làm là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động có cơ hội làm việc với chất lượng việc làm ngày càng cao. Ý nghĩa của giải quyết việc làm Đất nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá, hơn nữa nước ta đang tiến tới mục tiêu bình đẳng giữa nam và nữ trong vấn đề việc làm. Chính vì thế để góp phần thực hiện tốt và có hiệu quả quá trình trên thì vấn đề tạo việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nữ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay vì góp phần: Làm giảm lao động dư thừa và thời gian nhàn rỗi đồng thời từng bước nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động. Do sức ép rất lớn phải giải quyết việc làm cho lao động nữ ở nông thôn bởi đất chật người đông, thu nhập từ nông nghiệp rất thấp, trong khi đó lao động nữ ở nông thôn dư thừa nhiều.
Làm giảm áp lực thất nghiệp trong nền kinh tế ở nước ta. Áp lực việc làm và thu nhập đã tạo ra xu hướng di chuyển lao động tự phát từ nông thôn ra các thành thị và đến vùng nông thôn khác. Sự di chuyển này đã làm tăng tình trạng thất nghiệp và bán thất nghiệp ở khu vực thành thị đồng thời phát 16 sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp. Do vậy cần phải nhanh chóng đẩy mạnh vần đề giải quyết việc làm cho lao động nữ trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn ở các địa phương.
Làm giảm bớt sự phân bố dân cư không đồng đều giữa các địa phương, các vùng trong cả nước, đồng thời hạn chế và chấm dứt tình trạng du canh du cư, di dân tự do. Giải quyết việc làm cho lao động nữ tạo ra tinh thần tích cực làm việc cho người lao động, đồng thời tạo ra thu nhập ổn định cho họ, làm cho họ không nghĩ đến việc di chuyển lên các đô thị hoặc các vùng khác. Nâng cao dân trí, công bằng xã hội. Lao động nữ Từ khi sinh ra lao động nữ đã mang những đặc tính riêng mà bản thân họ mới có, điều đó tạo nên sự khác biệt giữa lao động nam và lao động nữ.
Trong luận văn này, lao động nữ được xác định là người có giới tính nữ, từ đủ 15 tuổi trở lên có khả năng lao động. Các quan điểm về việc làm của phụ nữ 1. Những quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về lao động nữ Tổ chức lao động quốc tế (ILO) ngay sau khi thành lập ILO lấy nguyên tắc bình đẳng nam nữ là nền tảng đầu tiên cho hoạt động của mình. ILO đã và đang đấu tranh để loại bỏ sự phân biệt đối xử chống phụ nữ.
Từ khi thành lập đến 30/6/1991 ILO đã phê chuẩn 172 Công ước và 179 khuyến nghị về các vấn đề xã hội rộng lớn như quyền con người, mức lương tối thiểu, quản lý lao động, mối quan hệ công nghiệp, chính sách việc làm, điều kiện làm việc, bảo hiểm xã hội, an toàn nghề nghiệp và sức khỏe, việc làm trên biển. Ngoài ra, ILO đang xúc tiến nhiều chương trình khác nhau dành cho phụ nữ để thúc đẩy sự công bằng về cơ hội và đối xử trong việc làm giữa nam và nữ. ILO cũng tiến hành nhiều nghiên cứu khác nhau, đã cho xuất bản nhiều tài liệu học tập cho lao động nữ nhằm nâng cao nhận thức về điều kiện sống và làm việc của họ.