Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật vi phạm hành chính trong hành nghề luật sư; Chương 2: Thực trạng pháp luật về vi phạm hành chính trong hành nghề luật sư ở Việt Nam; Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính trong hành nghề luật sư. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HÀNH NGHỀ LUẬT SƢ 1. Những khái niệm có liên quan đến pháp luật về vi phạm hành chính trong hành nghề luật sƣ 1. Khái niệm và đặc điểm của luật sƣ và nghề luật sƣ Theo quy định của pháp luật về luật sư của nhiều nước thì luật sư là người được một cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc công nhận tư cách luật sư.
Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc công nhận tư cách luật sư đa số là cơ quan Tư pháp (Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp), Tòa án Tối cao, Tòa án tiểu bang, Tòa án Liên bang. Đa số các nước trên thế giới không có sự phân biệt về luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn. Trong khi đó, nước Anh và Úc thì vẫn còn đang phân chia luật sư thành hai loại là luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn. Luật sư ở Singapore, Pháp và Hoa Kỳ có mối liên hệ chặt chẽ với cơ quan Toà án, tồn tại song song hoặc trực thuộc các toà án.
Luật sư ở Singapore thuộc Toà án tối cao Singapore; các luật sư Pháp thành lập mỗi đoàn luật sư bên cạnh mỗi toà án thẩm quyền rộng. Luật sư ở Hoa Kỳ, ở Úc được công nhận và cho phép hành nghề theo lãnh thổ từng bang, trong phạm vi thẩm quyền tài phán của tòa án từng bang hoặc liên bang. Một luật sư có thể được phép hành nghề tại nhiều bang và phải tuân theo quy chế của từng bang đặt ra. Luật sư hành nghề tại tòa án tiểu bang cũng có thể xin công nhận và được phép hành nghề tại các Tòa án tối cao của liên bang.
Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của cá nhân luật sư. Nói cách khác, phẩm chất và năng lực cá nhân của luật sư là yếu tố quyết định trong nghề luật sư. Người muốn hành nghề luật phải được 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com công nhận là luật sư. Pháp luật các nước trên thế giới thường không đưa ra khái niệm luật sư mà chỉ quy định về tiêu chuẩn để trở thành luật sư.
Tùy theo quy định mỗi nước khác nhau về tiêu chuẩn luật sư và điều kiện hành nghề luật sư mà xác định cơ quan hay tổ chức có thẩm quyền công nhận một người là luật sư, cũng như thời điểm nào một người được công nhận là luật sư và giấy tờ gì chứng minh một người là luật sư ở mỗi nước là khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung, tiêu chuẩn phổ biến để được công nhận luật sư là: Là công dân ở nước sở tại; Có bằng cử nhân luật; Có phẩm chất đạo đức tốt. Ngoài các tiêu chuẩn trên, muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề, tập sự hành nghề luật sư hoặc chỉ cần đỗ kỳ thi quốc gia để được công nhận luật sư, điều đó còn phụ thuộc vào quy định pháp luật mỗi nước. Thẩm quyền công nhận có thể là Tòa án tối cao hay Bộ Tư pháp hoặc chỉ cần đăng ký gia nhập một Đoàn luật sư thì trở thành luật sư.
Như vậy, ta có thể rút ra khái niệm luật sư như sau: Luật sư được hiểu là một chức danh bổ trợ tư pháp, có tư cách pháp lý độc lập, có đủ tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề luật chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý bao gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng trước Tòa án, các cơ quan nhà nước và các chủ thể khác theo quy định của pháp luật. Nghề luật là một khái niệm mang tính tương đối, được sử dụng để chỉ nghề nghiệp của những người có kiến thức pháp luật nhất định, đang thực hiện các công việc liên quan đến các mặt khác nhau của đời sống pháp lý tại tòa án, viện kiểm sát, văn phòng luật sư, cơ quan công an, cơ quan thi hành án, cơ quan công chứng và một số bộ phận trong các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước v. Do đó, nếu dùng cụm từ “nghề luật” thì theo cách biểu hiện của ngôn ngữ Việt là quá 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rộng, cụm từ này ý chỉ không phải chỉ là việc bào chữa, biện hộ trước Tòa án và làm tư vấn pháp luật (cung cấp dịch vụ pháp lý) của luật sư mà bao hàm toàn bộ hoạt động của ngành Tư pháp, của cả các chức danh tư pháp được Nhà nước trao quyền và cá nhân hoạt động tự do không phải là công chức, cán bộ Nhà nước. Ở Việt Nam lâu nay trên các bài báo và tạp chí chúng ta thường thấy người viết vẫn hay sử dụng các cụm từ “nghề luật sư”, “hành nghề luật sư”.
Thực ra như vậy không hoàn toàn chính xác về mặt ngôn ngữ. Bởi vì “luật sư” là một danh từ chỉ người, chứ không phải dùng để chỉ một nghề. Vì vậy trong tiếng Anh người ta dùng “Lawyer” (luật sư) và “Practice law” (hành nghề luật). Tuy nhiên, theo chúng tôi việc sử dụng các cụm từ “nghề luật sư” và “hành nghề luật sư” là phù hợp với thực tiễn của nước ta, có thể chấp nhận được.
Khi bàn tới khái niệm nghề luật sư, về phương diện lý luận, cần đặt nó trong bối cảnh so với các nghề nghiệp khác của xã hội, các giá trị, chuẩn mực nghề nghiệp và vị trí, vai trò của nó trong sự phát triển của xã hội. Nghề Luật sư là một nghề xuất hiện từ xa xưa và đang ngày càng phát triển, trở thành nghề có phương thức hành nghề tự do, được các văn bản pháp luật của Nhà nước quy định. Lịch sử nghề Luật sư ở mỗi nước gắn liền với chế độ chính trị ở nước đó và phục vụ quyền lợi của giai cấp thống trị nước đó. Cụm từ “hành nghề luật sư” phải hiểu là việc luật sư tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật.
Nghề luật sư có đặc thù riêng của nó, đây là một nghề mang tính trí tuệ rất cao, đòi hỏi kiến thức luật, vốn sống, suy nghĩ độc lập, bản lĩnh, sự nhanh nhạy để tìm hiểu vụ việc, bảo vệ quyền lợi thân chủ và đấu trí với các đối 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tượng liên quan đến vụ việc. Bởi vậy, người hành nghề luật sư, nhờ các kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức pháp luật đã được đào tạo và công nhận bởi Bộ Tư pháp, họ là người am hiểu pháp luật và có khả năng “lách” luật, qua mắt các cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý để kiếm lợi bất chính. Chính bởi đặc điểm này mà công tác xử lý vi phạm hành chính trong hành nghề luật sư đặc biệt khó khăn trên thực tiễn, đây là vấn đề mà Nhà nước cần xem xét, tìm hiểu và khắc phục để bảo đảm luật sư thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình là đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần vào việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tóm lại, hành nghề luật sư là một nghề mà trong đó luật sư – một chức danh bổ trợ tư pháp – có quyền tự do trong phương thức hành nghề của mình, cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo quy định của pháp luật và quy tắc đạo đức nghề nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng, góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Các luật sư được hành nghề tự do, tự do lựa chọn hình thức hành nghề là hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư - được thực hiện bằng việc thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư; làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân. Các luật sư hành nghề theo quy định của pháp luật. Hiện nay, có hai hình thức hành nghề Luật sư được pháp luật Việt Nam công nhận và nêu rõ trong các văn bản pháp luật là: luật sư hành nghề theo tư cách cá nhân và luật sư làm việc trong các tổ chức hành nghề Luật sư. Tổ chức hành nghề Luật sư hiện nay gồm hai hình thức là Văn phòng luật sư và Công ty luật Luật sư hành nghề theo tư cách cá nhân còn được gọi là luật sư nội bộ, hình thức này được hiểu là một hoặc một nhóm luật sư làm việc theo hợp 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đồng lao động cho các tổ chức, doanh nghiệp mà không làm việc cho các Công ty Luật hoặc Văn phòng Luật sư.
Phạm vi hành nghề của luật sư nội bộ là giải quyết các vấn đề pháp lý theo nhu cầu của chính tổ chức, doanh nghiệp nơi mình làm việc. Đặc biệt, do chủ yếu hoạt động trong các Doanh nghiệp nên luật sư nội bộ chủ yếu tập trung trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp, thương mại và các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan khác. Luật sư hành nghề trong một tổ chức hành nghề luật sư (Công ty Luật, hoặc Văn phòng luật sư) thường chịu trách nhiệm thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo sự phân công của tổ chức hành nghề. Có thể thấy rõ nếu so sánh hai hình thức hoạt động hành nghề trong lĩnh vực luật sư này thì luật sư hành nghề theo tư cách cá nhân ngoài có mối quan hệ giữa luật sư với khách hàng như luật sư hành nghề trong một tổ chức hành nghề Luật sư, thì họ còn tồn tại một mối quan hệ nữa là Người lao động với Người sử dụng lao động.