chương 1 Tận dụng những tính chất ưu việt của vật liệu hai chiều, cụ thể là vật liệu g-CN, luận văn hướng đến nghiên cứu cấu trúc điện tử và trật tự từ các 6 cấu trúc dẫn xuất của g-CN với tính chất từ mong muốn, ứng dụng trong spintronic. Cụ thể một số vấn đề được đề ra là: (i) Đề xuất những phương án hấp phụ Hiđrô và các nguyên tử nguyên tố nhóm 2p khác nhau lên bề mặt vật liệu g-CN nhằm thu được những vật liệu bán dẫn hay nửa kim loại mang từ tính, đặc biệt là phản sắt từ. (ii) Giải thích kết quả thu được bằng một bức tranh lý - hóa sự chuyển dịch điện tích và phân bố spin trong cấu trúc ô mạng cơ sở sau khi hấp phụ nguyên tử. 7 Chương 2 Mô hình và phương pháp tính toán 2.1 Lý thuyết phiếm hàm mật độ DFT 2.1 Phương trình Schrodinger cho bài toán hệ nhiều hạt Tiên đề thứ nhất của cơ học lượng tử cho rằng trạng thái của hệ nhiều hạt được biểu diễn bởi hàm sóng Φ phụ thuộc vào tọa độ của N hạt nhân R~n , tọa độ của I điện tử {~ri } và thời gian t.
Hàm sóng Φ {~ri} , R~n , t có thể tìm được bằng cách giải phương trình Schrodinger phụ thuộc vào thời gian r i} , R~n , t dΦ {~ ri } , R~n , t (2.1) i~ = HΦ {~ dt với H là toán tử Hamilton của hệ. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp thì việc giải chính xác phương trình (2.1) là rất khó khăn. Trong trường hợp đặc biệt, khi hệ có năng lượng bảo toàn thì toán tử H được viết như sau: H = Te + TN + VN −e + Ve−e + V N −N (2.2) với I ~2 ∇2i là toán tử động năng của các electron; X (i) Te = − 2me i=1 N ~2 ∇ 2n là toán tử động năng của các hạt nhân; X (ii) TN = − 2Mn n=1 I X N Z e2 n là toán tử thế năng tương tác giữa hạt nhân và electron; X (iii) VN −e = − r~i − R~n i=1 n=1 I I 1 e2 là toán tử thế năng tương tác giữa các electron; XX (iv) Ve−e = 2 ri − r~j | |~ i=1 j>i N N 1 Z nZl e2 (v) V N −N = là toán tử thế năng tương tác giữa các hạt nhân. 2 n=1 X X l>n R~n − R ~l 8 Chú ý trong biểu thức của Hamiltonian, ta chỉ xét đến tương tác Coulomb mà chưa xét đến các hiệu ứng tương đối tính, tác dụng từ trường và điện động lực học lượng tử.
Do toán tử H không phụ thuộc tường minh vào thời gian nên để đơn giản ta đặt ri} , R~n , t = Ψ {~ ~n (2.3) Φ {~ r i} , R f (t) Thay vào phương trình (2.1), đồng thời chia cả hai vế cho Ψ {~ri } , R~n f (t), ta thu được: 1 df (t) 1 HΨ {~ri } , R~n (2.4) i~ = f (t) dt r i} , R~n Ψ {~ Dễ thấy vế trái chỉ phụ thuộc vào thời gian, còn vế phải chỉ phụ thuộc vào tọa độ của các hạt, vì vậy vế trái và vế phải phải bằng nhau và bằng hằng số E. Từ đó, ta thu được phương trình Schrodinger không phụ thuộc thời gian (TISE): ri} , R~n ri } , R~n (2.5) HΨ {~ = E Ψ {~ Phương trình TISE không thể giải chính xác, mà chỉ có thể giải được khi thực hiện một số phép gần đúng.2 Gần đúng Born-Oppenheimer Gần đúng Born-Oppenheimer (BO) được đưa ra bởi Max Born và J. Robert Oppenheimer vào năm 1927 - giai đoạn đầu của cơ học lượng tử để giải phương trình Schrodinger cho một phân tử bằng cách tách biệt chuyển động của hạt nhân và chuyển động của điện tử.[19] Điều này dựa trên cơ sở là khối lượng của hạt nhân là rất lớn so với khối lượng của điện tử, chính vì vậy chuyển động của hạt nhân là rất chậm so với chuyển động điện tử. Nói cách khác, nếu vị trí của hạt nhân thay đổi thì các điện tử sẽ gần như ngay lập tức hưởng ứng theo chuyển động hạt nhân.
Khi đó, một cách gần đúng ta coi hàm sóng của điện tử chỉ phụ thuộc vào vị trí của hạt nhân trong không gian, mà không phụ thuộc vào vận tốc của hạt nhân. Với nhận định như vậy, ta có thể tách hàm sóng tổng cộng của phân tử thành hai phần riêng biệt cho điện tử (ψ) và cho hạt nhân (χ): ri} , R~n Ψ {~ ri } , R~n = ψ {~ χ R~n (2.6) 9 Từ đây, ta có phương trình Schrodinger cho các điện tử là ri} , R~n ~n (2.7) He ψ {~ = Eeψ {~ r i} , R với toán tử Hamiltonian cho điện tử là He = Te + V N −e + Ve−e do phần tử (ii) và (v) trong (2.2) chỉ tác dụng lên hàm sóng của hạt nhân. Giá trị riêng Ee thay đổi theo R~n được giải từ phương trình (2.7) tạo thành một bề mặt năng lượng được coi như thành phần thế năng trong Hamiltonian tổng cộng. Khi đó phương trình Schrodinger cho cả phân tử là: [TN + Ee(R~n)]Ψ {~ ~n ri} , R~n (2.8) ri } , R = E Ψ {~ với thành phần động năng TN bao gồm chuyển động xoay, tịnh tiến và dao động của hạt nhân.
Giải phương trình (2.8) thu được năng lượng tổng cộng E , từ đó cho ta thông tin về những đặc điểm vật lý của phân tử. Mặc dù gần đúng BO đã đơn giản hóa việc giải phương trình Schrodinger, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số điểm hạn chế. Thứ nhất là phương trình (2.7) có thể giải chính xác cho trường hợp đơn giản nhất là nguyên tử Hydro, tuy nhiên với hệ có kích thước lớn hơn thì việc tìm ra lời giải chính xác là rất khó khăn. Thứ hai là kể cả khi ta có lời giải chính xác cho phương trình (2.7) thì việc giải phương trình (2.8) cũng không hề đơn giản do thành phần bên ngoài (chuyển động xoay, chuyển động tịnh tiến) và thành phần bên trong (sự dao động của hạt nhân) không thể tách biệt được hoàn toàn.
Vì vậy, việc áp dụng duy nhất gần đúng BO cho hệ vật lý thực là không khả thi mà cần kết hợp với các phương pháp khác để khắc phục các điểm hạn chế nêu trên.3 Lý thuyết Hartree-Fock Lý thuyết Hartree-Fock (HF) được xây dựng để giải phương trình Schrodinger cho hệ điện tử viết dưới dạng (2.7), chính là bước thứ nhất trong gần đúng BO. Lý thuyết HF xét hệ gồm N điện tử không tương tác trực tiếp với nhau và coi mỗi điện tử sẽ chịu tác dụng của một trường trung bình do (N−1) điện tử còn lại gây ra. Với giả thiết như vậy, ta có thể viết lại hàm sóng của hệ điện tử theo tích các hàm sóng của từng điện tử trong hệ. Dạng tổng quát hàm sóng của hệ điện tử có dạng ψHP (r~1, r~2 , .9) 10 còn được gọi là Tích Hartree (Hartree Product).
Hàm sóng biểu diễn cho hệ fermion có tính chất phản đối xứng, nghĩa là khi thay đổi hệ tọa độ không gian - spin của hai fermion bất kì thì hàm sóng đổi dấu. Tuy nhiên, cách viết hàm sóng dưới dạng (2.9) không thỏa mãn nguyên lý phản đối xứng. Trong hệ tọa độ không gian - spin, fermion không chỉ có 3 bậc tự do không gian, mà còn có bậc tự do spin nội tại ω. Vì vậy chúng ta cần thay đổi các kí hiệu cho các orbital từ quỹ đạo không gian φ(r~i ) thành các quỹ đạo spin φ(r) = φ(r~i , ω).
Bên cạnh đó, nhờ có định thức Slater, ta có thể viết lại hàm sóng dưới dạng phản đối xứng thỏa mãn nguyên lý loại trừ Pauli như sau: 1 (r1 N (r1 φ ) · · · φ ) 1 .10) N! φ1 (rN ) · · · φN (rN ) với φ i(rj ) biểu diễn cho orbital thứ i bị chiếm bởi electron thứ j .[20] Ban đầu, một bộ cơ sở các hàm trực giao được chọn dựa trên phân tử nghiên cứu để làm các trạng thái đầu vào input của một electron. Sau đó, bộ cơ sở này được sử dụng để xác định mật độ của một electron và mật độ tổng cộng là N (in) (in) (in) ρi (r) = |φi (r)| 2 và ρ (in)(r) = (2.11) X ρi i=1 Tiếp theo, sử dụng hàm sóng viết dưới dạng (2.10) để giải phương trình (out) (2. Mật độ đầu ra output ρ(i out) và ρ(out) được tính theo công thức tương tự như mật độ đầu vào ở biểu thức ()2. Nếu sự chênh lệch giữa output và input đủ nhỏ thì giá trị output đó có thể tiếp tục được sử dụng để tính các đặc điểm của hệ.
Mặt khác nếu điều kiện trên không thỏa mãn thì ρ(i out) và ρ(out) sẽ được sử dụng làm thông số input mới để giải lại phương trình (2. Quá trình này sẽ được lặp lại cho đến khi chênh lệch giữa output và input đủ nhỏ. Phương pháp này được gọi là phương pháp trường tự hợp với thuật toán được tổng hợp ở hình 2. Điểm hạn chế của lý thuyết HF là nó bỏ qua tương tác giữa các electron, do đó mà một phần tương quan của electron đã bị bỏ qua.4 Lý thuyết phiếm hàm mật độ DFT Lý thuyết phiếm hàm mật độ DFT được ra vào những năm 1960 bởi P.
Sham và được sử dụng rộng rãi trong vật lý 11 Hình 2.1: Thuật toán Hartree-Fock [20] từ những năm 1970. DFT cho phép thay thế việc sử dụng hàm sóng của hệ N điện tử với 3N biến tọa độ để mô tả trạng thái của hệ điện tử bằng một phiếm hàm mật độ duy nhất theo chỉ 3 biến x, y, z trong không gian. Với DFT, mọi tính chất vật lý của một hệ nhiều hạt đều có thể biểu diễn dưới dạng phiếm hàm của hàm mật độ điện tử. Chính vì vậy, DFT giúp đơn giản hóa bài toán hệ nhiều hạt, giảm cho phí và thời gian tính toán so với phương pháp truyền thống, trong đó kể cả lý thuyết HF đã đề cập ở trên.
Các định lý Hohenberg – Kohn Nền tảng của DFT là hai định lý đưa ra bởi P. Hamiltonian của hệ được viết dưới dạng H = T + U + V, (2.12) với T , U và V lần lượt là động năng, thế tương tác Coulomb và phần thế ngoài.