I. Vật liệu Graphit Nitơ Tổng quan Tiềm năng Spintronic
Ngành công nghiệp điện tử luôn tìm kiếm những vật liệu mới để nâng cao hiệu năng, giảm kích thước và tiết kiệm năng lượng. Spintronic (điện tử học spin) nổi lên như một giải pháp đột phá, kết hợp vi điện tử với các hiệu ứng phụ thuộc spin. Khác với điện tử thông thường, spintronic khai thác spin của điện tử để lưu trữ và truyền tải dữ liệu. Mục tiêu là điều khiển bậc tự do spin trong vật liệu điện tử. Một trong những thách thức lớn của spintronic là tìm ra vật liệu có khả năng phân cực spin hoàn toàn ở mức Fermi, duy trì định hướng spin trong thời gian dài và dễ dàng phát hiện spin. Dòng spin, yếu tố then chốt của spintronic, khác biệt so với dòng điện tích thông thường. Nó bao gồm hai dòng điện tích ngược chiều, một dòng chứa điện tử spin hướng lên và dòng còn lại chứa điện tử spin hướng xuống, dẫn đến không có sự dịch chuyển điện tích tổng cộng. Để hiện thực hóa tiềm năng của spintronic, việc phát triển các vật liệu mới như bán dẫn từ (MS) và nửa kim loại sắt từ (HMF) với nhiệt độ Curie (Tc) cao là vô cùng quan trọng. Nghiên cứu về vật liệu graphit nitơ mở ra một hướng đi đầy hứa hẹn.
1.1. Điện tử học spin Spintronics Cơ sở và Ứng dụng
Điện tử học spin, hay spintronics, là một lĩnh vực điện tử học khai thác spin của electron như một bậc tự do để tham gia vào quá trình lưu trữ và truyền tải dữ liệu. Mục tiêu cốt lõi của spintronics là làm sáng tỏ cơ chế tương tác giữa spin và môi trường chất rắn xung quanh nó, đồng thời nghiên cứu sự truyền tải spin, động lực học spin và sự hồi phục spin. Từ đó, spintronics mở ra khả năng điều khiển spin của electron trong vật liệu điện tử một cách hiệu quả. Để tận dụng tối đa tiềm năng của spintronics, việc nghiên cứu và phát triển các vật liệu mới như bán dẫn từ (MS) và nửa kim loại sắt từ (HMF) có tính bền và nhiệt độ Curie cao hơn nhiệt độ phòng là vô cùng quan trọng.
1.2. Vật liệu tiềm năng Bán dẫn từ MS và Nửa kim loại sắt từ HMF
Ưu điểm của vật liệu bán dẫn từ MS không chỉ là sự phân cực spin của hạt tải mà còn là sự dễ dàng kết hợp với những thiết bị bán dẫn trong công nghiệp điện tử hiện nay. Tính chất MS được phát hiện ở rất nhiều các vật liệu khác nhau như oxit của các kim loại chuyển tiếp, GaAs hay GaN khi pha tạp mangan Mn, các hợp chất B3 và B4, các hợp kim bán dẫn C1b pha tạp,... Vật liệu nửa kim loại sắt từ HMF đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu đặt ra của spintronics với cấu trúc điện tử rất đặc biệt: một trạng thái spin cho tính chất bán dẫn, một trạng thái spin còn lại cho tính chất kim loại, từ đó cho phép sự phân cực spin hoàn toàn ở mức Fermi. CrO2, perovskite manganites, và rất nhiều hợp chất Heusler là vật liệu nửa kim loại sắt từ, tuy nhiên chúng lại không có hiệu ứng từ điện trở khổng lồ do sự phân cực spin không lớn.
II. Graphene và Vật liệu Graphit Nitơ So sánh Ưu điểm
Graphene, một vật liệu hai chiều với cấu trúc tinh thể đơn giản, đã tạo ra một cuộc cách mạng trong lĩnh vực vật liệu. Tuy nhiên, graphene không có độ rộng vùng cấm, gây khó khăn trong việc ứng dụng trong công nghiệp điện tử. Vật liệu graphit nitơ (g-CN), cũng là vật liệu hai chiều với cấu trúc mạng lục giác tương tự graphene, nhưng được đục lỗ tạo khuyết tuần hoàn và pha thay thế 3 nguyên tử C bằng 3 nguyên tử N. Cấu trúc có công thức tổng quát là g-C3N4 có bản chất là bán dẫn, giải quyết được bài toán của graphene, tuy nhiên lại không có từ tính. Một cấu trúc khác trong họ g-CN, g-C4N3, đã được tổng hợp thành công ở thực nghiệm và có bản chất là HMF, cho thấy tiềm năng ứng dụng thực tế. Cần tìm biện pháp hấp phụ phù hợp để biến tính vật liệu graphit nitơ. Theo luận văn gốc, vật liệu graphít cácbon nitơ g-C4 N3 bền vững ở dạng đơn lớp với tính chất đặc biệt - nửa kim loại sắt từ đã thu hút rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu bởi những ứng dụng của nó trong spintronic.
2.1. Graphene Cấu trúc Tính chất và Hạn chế về vùng cấm
Với độ dày chỉ một nguyên tử C, graphene là vật liệu mỏng nhất được biết đến và có diện tích bề mặt lớn nhất (cỡ 3000 m2/1 gam); cứng hơn kim cương; có thể kéo dãn tới 20% độ dài của nó mà không đứt dãy liên kết. Graphene là vật liệu bán kim loại có vùng dẫn và vùng hóa trị không xen phủ lẫn nhau, trong đó các hạt mang điện có quan hệ phân tán tuyến tính gần điểm Dirac. Hiệu ứng trường điện tử lưỡng cực khiến graphene nồng độ hạt tải điện lên tới 1013 cm−2 và độ linh động hạt tải là xấp xỉ 20000 cm2/Vs ở nhiệt độ phòng. Độ linh động này phụ thuộc yếu vào nhiệt độ, nghĩa là nếu tạp chất tán xạ giảm thì độ linh động còn có thể cao hơn nữa cỡ 100000 cm2/Vs. Hơn nữa, trong graphene các hạt tải điện hành xử như các fermion Dirac không có khối lượng và hiệu ứng Hall lượng tử cũng quan sát được ở nhiệt độ phòng.
2.2. Vật liệu Graphit Nitơ g CN Giải pháp cho vùng cấm Tiềm năng Từ tính
Vật liệu graphít cácbon nitơ cũng là vật liệu hai chiều có cấu trúc mạng lục giác tựa như graphene nhưng được đục lỗ tạo khuyết tuần hoàn và đồng thời pha thay thế 3 nguyên tử C trong mạng graphene bằng 3 nguyên tử N. Cấu trúc có công thức tổng quát là g-C3N4 có bản chất là bán dẫn - giải quyết được bài toán gặp phải ở graphene, tuy nhiên lại không có từ tính. Muốn ứng dụng trong spintronic, ta cần tìm biện pháp hấp phụ phù hợp để biến tính vật liệu này. Một cấu trúc khác trong họ g-CN có cấu trúc tổng quát là g-C4N3 đã được tổng hợp thành công ở thực nghiệm có bản chất là HMF cho thấy được tiềm năng có thể tổng hợp thành công và ứng dụng trong thực tế của loại vật liệu này.
2.3. g C3N4 và g C4N3 Cấu trúc Đặc trưng và Ứng dụng
Vật liệu graphít cácbon nitơ là một họ các hợp chất của cácbon và nitơ, thường có công thức tổng quát là g-C3N4. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng g-C3N4 có rất nhiều đồng phân khác nhau, nhưng dựa trên nhóm đơn vị cấu tạo nên vật liệu ta có thể chia các đồng phân đó thành hai nhóm chính có cấu trúc như ở hình 1. Tùy thuộc vào cấu trúc đó có nhóm đơn vị là một vòng đơn triazine C3N3 (gọi là s-triazine) hay ba vòng triazine (gọi là tri-s-triazine hay heptazine) mà chúng có tính chất điện và từ khác nhau, từ đó dẫn tới những tiềm năng ứng dụng khác nhau. Do vòng triazine là vòng thơm nên cấu trúc mạng tinh thể g-C3N4 dựa trên s-triazine hay heptazine đều gồm những lớp phẳng hai chiều liên hợp π như graphite. Tuy nhiên, khác với tính chất kim loại của graphene, đơn lớp g-C3N4 là bán dẫn với độ rộng vùng cấm đáng kể.
III. DFT Quantum ESPRESSO Phương pháp Dự đoán Từ tính
Luận văn sử dụng lý thuyết phiếm hàm mật độ (DFT) để nghiên cứu cấu trúc điện tử và trật tự từ của vật liệu. DFT cho phép thay thế việc sử dụng hàm sóng của hệ N điện tử bằng một phiếm hàm mật độ duy nhất, giảm chi phí tính toán. Các định lý Hohenberg – Kohn là nền tảng của DFT, cho phép mô tả hệ lượng tử nhiều hạt thông qua hàm mật độ. Phương trình Kohn – Sham được sử dụng để giải bài toán hệ điện tử tương tác. Các phiếm hàm tương quan – trao đổi, như LDA, GGA và meta-GGA, được sử dụng để tính toán năng lượng trao đổi và tương quan. Gói phần mềm Quantum ESPRESSO (QE), một phần mềm mã nguồn mở, được sử dụng để mô phỏng và tính toán cấu trúc điện tử của vật liệu dựa trên DFT, sử dụng sóng phẳng (PW) và giả thế (PP).
3.1. Lý thuyết Phiếm hàm Mật độ DFT Nền tảng và Ưu điểm
Lý thuyết phiếm hàm mật độ DFT được ra vào những năm 1960 bởi P. Sham và được sử dụng rộng rãi trong vật lý từ những năm 1970. DFT cho phép thay thế việc sử dụng hàm sóng của hệ N điện tử với 3N biến tọa độ để mô tả trạng thái của hệ điện tử bằng một phiếm hàm mật độ duy nhất theo chỉ 3 biến x, y, z trong không gian. Với DFT, mọi tính chất vật lý của một hệ nhiều hạt đều có thể biểu diễn dưới dạng phiếm hàm của hàm mật độ điện tử. Chính vì vậy, DFT giúp đơn giản hóa bài toán hệ nhiều hạt, giảm cho phí và thời gian tính toán so với phương pháp truyền thống, trong đó kể cả lý thuyết HF đã đề cập ở trên.
3.2. Quantum ESPRESSO Công cụ Mô phỏng Vật liệu
Quantum ESPRESSO (QE) là phần mềm mã nguồn mở dùng để mô phỏng và tính toán cấu trúc điện tử của vật liệu dựa trên lý thuyết phiếm hàm mật độ, sử dụng sóng phẳng (PW) và giả thế (PP) để mô tả tương tác giữa điện tử và ion. Với đặc điểm là phần mềm mã nguồn mở, QE không chỉ được duy trì bởi một nhóm nhỏ các nhà phát triển phần mềm chính, mà nó được thiết kế, vận hành và duy trì bởi cộng đồng những người sử dụng QE. Các đoạn code được sử dụng trong phần mềm được ưu tiên thiết kế đơn giản để những nhà nghiên cứu trẻ và không chuyên có thể hiểu, dễ dàng chỉnh sửa và mở rộng cho từng bài toán. Bên cạnh đó, QE còn cho phép chuyển đổi định dạng dữ liệu để có thể dễ dàng tương tác với những phần mềm khác.
IV. g C4N3 Điều chỉnh Từ tính bằng Hấp phụ Nguyên tử
Luận văn đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc hấp phụ nguyên tử H và các nguyên tố nhóm 2p lên bề mặt vật liệu graphit nitơ. Kết quả cho thấy, việc điều chỉnh orbital pz ở vị trí G(1) có thể bật/tắt tính chất từ định xứ của các orbital N-sp2 trong vòng lục giác. Hấp phụ Li hoặc các nguyên tố nhóm 2p vào vị trí lỗ trống có thể tạo ra cấu trúc nửa kim loại ferri từ với cả từ định xứ và từ linh động. Cặp nguyên tố BN hấp phụ vào vị trí lỗ trống của cấu trúc bán dẫn phi từ có thể chuyển đổi sang trật tự phản sắt từ. Các phân tích điện tử Bader và Lowdin, cùng với hình ảnh 3D phân bố spin và chênh lệch mật độ điện tử, đã làm rõ cơ chế thay đổi cấu trúc điện tử và trật tự từ.
4.1. Vị trí Graphit Ảnh hưởng đến Tính chất Từ định xứ
Các orbital phản liên kết C(1) và N-p z ngay dưới mức Fermi đã biến mất do C(1) hình thành liên kết với H, còn các điện tử N-pz hình thành liên kết π với các nguyên tử C trong vòng lục giác (hình 3. Sau khi hấp phụ H, orbital sp2 của các nguyên tử N trong vòng lục giác được làm giàu điện tử (hình 3.4b), do đó không còn sự bất đối xứng giữa hai trạng thái spin hướng lên và hướng xuống như g-C4 N 3. Bên cạnh đó, PDOS của HC 4 N3 tương tự như C3 N4 do chúng là hai cấu trúc đẳng điện tích (xem hình 3.
4.2. Vị trí Lỗ trống Tạo ra Tính chất Từ Linh động
Một phương án thiết kế khác khi đồng thời hấp phụ một nguyên tử F nằm phía trên Li ở vị trí lỗ trống và H nằm phía trên N(1) cũng cho tính chất tương tự như HC3 N4 nhưng điều đặc biệt ở PDOS của cấu trúc này là sự xuất hiện của trạng thái (in-gap state) nằm giữa vùng hóa trị và vùng dẫn (hình 3. Cả ba cấu trúc HC3N 4, C3 N4 Li và HC3 N 4 LiF đều là các cấu trúc với tính chất nửa kim loại ferri từ. Từ phân tích mật độ Lowdin ở bảng 3.1, ta thấy rằng các nguyên tử hấp phụ không đóng góp trực tiếp cho từ tính của hệ nhưng do sự phân bố lại mật độ điện tử đã tạo ra sự phân cực của các nguyên tử bên trong vòng lục giác và đặc biệt là nguyên tử ở vị trí G(1). Vậy ta có thể thu được tính chất từ linh động đóng góp chính ở các điện tử pz bằng cách hấp phụ Li/nguyên tố 2p ở vị trí lỗ trống A trong ô mạng cơ sở.
V. Bán dẫn Phản Sắt Từ Ứng dụng trong Spintronic
Luận văn cũng đề xuất một phương án để biến đổi cấu trúc bán dẫn phi từ thành bán dẫn phản sắt từ, có tiềm năng ứng dụng trong spintronic. Việc hấp phụ cặp nguyên tố BN vào vị trí lỗ trống của cấu trúc bán dẫn phi từ là mấu chốt của sự chuyển dịch sang trật tự phản sắt từ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, sự hấp phụ B và N đã biến cấu trúc với tính chất bán dẫn phi từ trở thành bán dẫn phản sắt từ. Tính chất đẳng điện đóng vai trò quan trọng trong việc dự đoán tính chất của các cấu trúc dựa trên g-CN.
5.1. Hấp phụ BN Chuyển đổi sang Bán dẫn Phản Sắt từ
Với sự xuất hiện của cặp nguyên tử hấp phụ BN, phiếm hàm HSE06 cho kết quả HC4N 3 BN là bán dẫn với độ rộng vùng cấm nhỏ cỡ 0.6 eV và sự đối xứng giữa hai trạng thái spin đã bị phá vỡ. Cụ thể hơn, giá trị độ từ hóa mtot/abs tính cho một ô cơ sở là 0.3) cho ta kết luận về trật tự từ ở cấu trúc HC4 N3 BN là phản sắt từ (AFM). Để làm rõ được vai trò của cặp BN đối với tính chất AFM, ta quan sát số liệu điện tích Bader ở bảng 3.3 và hình ảnh phân bố trực quan ở hình 3.
5.2. Ứng dụng trong Phản Sắt Từ Spintronic
Để khẳng định được vai trò của B và N đối với trật tự phản sắt từ, ta xét trường hợp hấp phụ BN lên C3 N4 đẳng điện tích và có tính chất bán dẫn phi từ như HC4 N3 . Trong khi phiếm hàm PBEsol dự đoán C3 N 4 BN có bản chất là bán dẫn không gap (SGS), phiếm hàm HSE06 cho kết quả gần như SGS. Tính chất phản sắt từ được xác nhận bởi cả hai phiếm hàm với mtot/abs = 0.59 đối với PBEsol và mtot/abs = 0. Vậy qua hai trường hợp trên, ta thấy rằng sự hấp phụ B và N đã biến cấu trúc với tính chất bán dẫn phi từ trở thành bán dẫn phản sắt từ. Bên cạnh đó, tính chất đẳng điện một lần nữa thể hiện vai trò quan trọng trong việc dự đoán tính chất của các cấu trúc dựa trên g-CN.
VI. Kết luận Hướng phát triển Graphit Nitơ cho Spintronic
Luận văn đã thành công trong việc mô phỏng các hệ vật liệu dựa trên nền g-CN để nghiên cứu sự thay đổi cấu trúc điện tử và trật tự từ khi hấp phụ các nguyên tử khác nhau. Các kết quả chính bao gồm việc điều chỉnh orbital pz để bật/tắt tính chất từ định xứ, đề xuất lược đồ thiết kế các vật liệu nửa kim loại ferri từ và bán dẫn phản sắt từ. Các nghiên cứu sâu hơn có thể tập trung vào việc khảo sát sự thay đổi cấu trúc điện tử và tính chất từ khi thay đổi độ giãn nén, áp dụng các phương án hấp phụ cho các cấu trúc dựa trên nền heptazine.
6.1. Tóm tắt Kết quả Chính Đóng góp của Luận văn
Vậy với việc sử dụng lý thuyết DFT tích hợp trong gói phần mềm QE và CASTEP nghiên cứu các dẫn xuất của g-CN, trong chương 3 luận văn đã trình bày rõ được sự thay đổi cấu trúc điện tử, cũng như trật tự từ của chúng đối với sự hấp phụ các nguyên tử nguyên khác nhau vào vị trí G(1), vị trí lỗ trống A hay đồng thời cả hai vị trí đó trong ô mạng cơ sở. Cụ thể, bằng cách điều chỉnh orbital pz ở vị trí G(1) có thể bật/tắt tính chất từ định xứ của các orbital N-sp2 trong vòng lục giác tương ứng với bản chất nửa kim loại hay bán dẫn của vật liệu. Trong khi đó, khi hấp thụ Li hoặc các nguyên tố nhóm 2p vào vị trí lỗ trống sao cho điện tử ở G(1) có sự phân cực spin, ta thu được một cấu trúc vật liệu nửa kim loại ferri từ mới mà trong đó đồng thời tồn tại cả từ định xứ và từ linh động. Cuối cùng, cặp nguyên tố BN hấp phụ vào vị trí lỗ trống của cấu trúc bán dẫn phi từ là mấu chốt của sự chuyển dịch sang trật tự phản sắt từ.
6.2. Đề xuất Hướng Nghiên cứu Tiếp theo Mở rộng
Về hướng phát triển tiếp theo, tôi đề xuất: (i) Khảo sát sự thay đổi cấu trúc điện tử và tính chất từ của các vật liệu có từ linh động đã được nghiên cứu trong luận văn khi thay đổi độ giãn nén. (ii) Áp dụng các phương án hấp phụ các nguyên tử đã trình bày ở trên cho các cấu trúc dựa trên nền heptazine (hình 1.1b) và nghiên cứu cấu trúc điện tử và trật tự từ của chúng.