Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CƠ TU Ở XÃ HÒA BẮC, HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 1. Khái niệm và cơ sở lý luận 1. Khái niệm trong nghiên cứu - Khái niệm tộc người Theo nghĩa hẹp, tộc người là một cộng đồng người có chung tiếng mẹ đẻ. Hiểu như vậy, tộc người sẽ tương đương với nhóm ngôn ngữ hay với nhóm dân tộc - ngôn ngữ mà các nhà ngôn ngữ học gọi là nhóm nói tiếng mẹ đẻ.
Theo nghĩa đó, tộc người cũng là dùng để chỉ những tập hợp người khá thuần nhất, sống cạnh nhau và có chung các đặc điểm về văn hóa mà trong đó yếu tố biểu hiện rõ nhất là việc sử dụng một ngôn ngữ. Nhưng, vấn đề đặt ra là, có rất nhiều cá nhân sống đây đó trên thế giới có cùng một ngôn ngữ mẹ đẻ song lại cách xa nhau về nhiều mặt, như về mặt địa lý (giữa các châu lục), về mặt lịch sử (thuộc nhiều quốc gia khác nhau), về mặt chủng tộc (thuộc các nguồn gốc khác nhau)… thì liệu họ có cùng một tộc người không, hay họ là những tộc người khác nhau có cùng một ngôn ngữ, hoặc là một tộc người được chia ra làm nhiều tộc người nhỏ…? Đây là vấn đề khó vẫn đang đòi hỏi các học giả cần quan tâm nghiên cứu, giải thích nhiều hơn. Theo nghĩa rộng, tộc người là một cộng đồng người liên kết với nhau bởi một phức hợp các tính chất chung về các mặt: nhân chủng, ngôn ngữ, chính trị… Sự kết hợp các tính chất đó tạo thành một hệ thống riêng, một cấu trúc mang tính văn hóa chủ yếu - một nền văn hóa riêng biệt. Nói một cách ngắn gọn, tộc người là một tập thể hay đúng hơn, là một cộng đồng người, được gắn bó với nhau bởi một nền văn hóa riêng biệt.
Theo nghĩa này, các yếu tố trong hệ thống tộc người có thể phát triển không đồng đều ở mỗi thành viên, hay sự vắng mặt của một trong số các yếu tố ở một thành viên cũng không làm cho họ tách khỏi nhóm tộc người của mình. Như vậy, có thể thấy cách hiểu theo nghĩa rộng trên đây cho phép bao quát tốt hơn các nhóm cộng đồng tộc người hiện đang tồn tại. Nhận thức này tuy có những ranh giới không quá rạch ròi, nhưng lại là cơ sở để nội hàm nghiên cứu các vấn đề về một cộng đồng tộc người cụ thể trở nên phong phú hơn. Để phục vụ cho sự nghiên 9 cứu, luận văn này sẽ đồng nhất ở nghĩa rộng, xem tộc người là một cộng đồng người, được gắn bó với nhau bởi một nền văn hóa riêng biệt.
- Khái niệm biến đổi Biến đổi là một khái niệm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm trong những năm gần đây trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Dưới nhiều góc độ nhận thức, khái niệm biến đổi mang nhiều ý nghĩa về sự tích cực hoặc hạn chế nào đó. Dưới góc độ nghiên cứu Việt Nam học, nhân học văn hóa hay văn hóa học, khái niệm biến đổi được ra đời từ sớm theo cách hiểu là một quy luật có tính tất yếu của cuộc sống. Từ những quan niệm trừu tượng của thuyết Khải Hoàn, xem mọi sự biến đổi của nhân loại đều chịu ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo (coi sự vận động của thế giới là điều tất yếu để đi đến cái tốt đẹp), đến những lập luận mang tính khoa học của thuyết Tiến hóa trong bước đầu giải thích mối quan hệ giữa tiến hóa của con người và sinh vật (đó là sự biến đổi theo quá trình, cái sau phát triển hơn cái khác); hay là sự mô phỏng tính chu kỳ trong quá trình sinh trưởng của mọi sự vật, có tiêu vong, biến mất và sau đó cái mới lại xuất hiện (trong mô hình của thuyết Chu kỳ); hoặc những gợi mở về cơ sở biến đổi của thuyết kinh tế, thuyết tư tưởng, thuyết kỹ thuật, thuyết xung đột, thuyết thích ứng trong thế kỷ XX.
đều chủ yếu lý giải về nội hàm của sự biến đổi; nhưng trên cơ bản, mọi thuyết đều nhấn mạnh đến tính tất yếu của sự biến đổi, xem đó như một quy luật vận động khách quan của cuộc sống. Có nhiều quan niệm về sự biến đổi văn hóa dựa trên nhiều khía cạnh, như ở phạm vi rộng: đó là một sự biến đổi một phần hay hoàn toàn mới được so sánh với một nếp sống hay một nền văn hóa tộc người đã được hình thành trước đó; hoặc trong phạm vi hẹp: biến đổi trong văn hóa là sự thay đổi những giá trị văn hóa đặc trưng, các thành tố văn hóa vật chất hoặc tinh thần của văn hóa tộc người đó, và sự biến đổi này tạo nên sự ảnh hưởng sâu sắc đến hầu hết các mặt đời sống của các thành viên trong một xã hội. Như vậy có thể thấy rằng: Biến đổi văn hóa là một quá trình, biểu hiện thông qua nhiều phương diện: phát triển kinh tế xã hội, phục hưng văn hóa truyền thống, hoạt động tôn giáo, phát triển truyền thông đại chúng, giao lưu văn hóa, qua đó những 10 khuôn mẫu trong phong tục, tập quán truyền thống có sự tiếp biến theo thời gian và theo nhiều cấp độ khác nhau. Và dù có các luận giải khác nhau về nguyên nhân biến đổi cũng như định nghĩa của nó, có thể thống nhất đề cao mặt tích cực của sự biến đổi trong tình hình phát triển chung của sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội; nhưng cũng không xem nhẹ các yếu tố tiêu cực, kém bền vững nảy sinh trong quá trình ấy vì vấn đề bảo tồn các giá trị truyền thống đặc trưng là điều cơ bản cần thiết để phân biệt giữa các tộc người.
Cơ bản, biến đổi là sự vận động/ tự chuyển mình một cách tất yếu cho phù hợp/ thích ứng với mọi điều kiện mới của xã hội, lịch sử. - Khái niệm văn hóa Văn hóa là sản phẩm của con người, nhờ có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật. Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do vậy cũng có nhiều những định nghĩa khác nhau về văn hóa. Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách “Culture, a critical review of concept and definitions” [Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa], trong đó tác giả đã trích lục khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau.
Điều này cho thấy, khái niệm “văn hóa” rất phức tạp. Tylor đưa ra định nghĩa “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và một số năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách một thành viên của xã hội” [58, tr. Theo định nghĩa này thì văn hóa và văn minh là một; nó bao gồm tất cả những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo đức, pháp luật… Có người ví, định nghĩa này mang tính “bách khoa toàn thư” vì đã liệt kê hết mọi lĩnh vực sáng tạo của con người. Boas định nghĩa “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên 11 của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” [7, tr.
Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người. Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa có rất nhiều định nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [38, tr.
Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra. Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người. Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [64, tr. Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân tộc.
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO đưa ra vào năm 1994. Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”; còn 12 hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng…” [35, tr. Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng.
Mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa.