Nghiên Cứu Văn Hóa Tang Ma Của Người Nùng Phàn Slình Tại Thái Nguyên

Khám phá tang ma của người Nùng Phàn Slình ở tỉnh Thái Nguyên, tìm hiểu phong tục, tập quán và ý nghĩa văn hóa độc đáo trong nghi lễ này.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2011

130
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp của luận án

0.6. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.2. Khái niệm tang ma

1.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH Ở TỈNH THÁI NGUYÊN VÀ NHỮNG QUAN NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN TANG MA

2.1. Điều kiện cư trú

2.2. Tình hình dân cư

2.3. Đặc điểm lịch sử, văn hoá, xã hội

2.4. Tín ngưỡng và quan niệm liên quan đến tang ma

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: TANG MA TRUYỀN THỐNG

3.1. Các loại tang ma

3.2. Tang ma của người chết bình thường

3.3. Tang ma của thầy cúng

3.4. Tang ma của người chết không bình thường

3.5. Tiểu kết chương 3

4. CHƯƠNG 4: SỰ BIẾN ĐỔI TRONG TANG MA

4.1. Các nội dung của sự biến đổi

4.2. Nguyên nhân biến đổi tang ma

4.3. Một số vấn đề đặt ra trong tang ma

4.4. Tiểu kết chương 4

5. CHƯƠNG 5: TANG MA CỦA NGƯỜI NÙNG PHÀN SLÌNH VÀ VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG MỚI

5.1. Tang ma biểu hiện đạo hiếu trong gia đình

5.2. Tang ma biểu hiện mối quan hệ cộng đồng

5.3. Tang ma phản ánh tín ngưỡng, tôn giáo tộc người

5.4. Tang ma phản ánh nghệ thuật dân gian tộc người

5.5. Tang ma, nguồn sử liệu góp phần nghiên cứu lịch sử tộc người

5.6. Tang ma phản ánh đời sống vật chất tộc người

5.7. Khai thác giá trị văn hoá trong tang ma của người Nùng Phàn Slình ở tỉnh Thái Nguyên

5.8. Tiểu kết chương 5

NHỮNG CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ VỀ NỘI DUNG LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH SÁCH NHÂN CHỨNG CUNG CẤP THÔNG TIN TƯ LIỆU ĐIỀN DÃ DÂN TỘC HỌC

PHỤ LỤC 1 - TƯ LIỆU CHỮ VIẾT

PHỤ LỤC 2, 3, 4, 5 - TƯ LIỆU HÌNH ẢNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Văn Hóa Tang Ma Của Người Nùng Phàn Slình

Nghiên cứu văn hóa tang ma của người Nùng Phàn Slình tại Thái Nguyên là một lĩnh vực quan trọng, phản ánh những giá trị văn hóa, tín ngưỡng và phong tục tập quán của cộng đồng này. Tang ma không chỉ là nghi lễ tiễn đưa người đã khuất mà còn là biểu hiện của đạo hiếu, tình cảm gia đình và sự kết nối cộng đồng. Việc tìm hiểu về tang ma giúp nhận diện rõ hơn về quan niệm sống và cái chết của người Nùng, từ đó bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống.

1.1. Khái Niệm Về Tang Ma Trong Văn Hóa Người Nùng

Tang ma được hiểu là những nghi lễ và phong tục liên quan đến việc tiễn đưa người đã khuất. Nó không chỉ đơn thuần là một nghi thức mà còn chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc về tâm linh và văn hóa của người Nùng.

1.2. Ý Nghĩa Của Tang Ma Đối Với Cộng Đồng

Tang ma không chỉ là sự tôn vinh người đã khuất mà còn là dịp để cộng đồng thể hiện sự đoàn kết, gắn bó. Nó giúp củng cố mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và cộng đồng.

II. Những Thách Thức Trong Nghiên Cứu Văn Hóa Tang Ma Của Người Nùng

Nghiên cứu văn hóa tang ma của người Nùng Phàn Slình gặp phải nhiều thách thức, từ việc thiếu tài liệu đến sự biến đổi của các phong tục tập quán. Sự thay đổi trong lối sống hiện đại đã ảnh hưởng đến cách thức tổ chức tang lễ, làm cho nhiều nghi thức truyền thống có nguy cơ bị mai một.

2.1. Thiếu Tài Liệu Nghiên Cứu

Việc thiếu tài liệu và nguồn tư liệu đáng tin cậy là một trong những thách thức lớn trong nghiên cứu văn hóa tang ma. Nhiều phong tục có thể đã bị lãng quên hoặc không được ghi chép đầy đủ.

2.2. Sự Biến Đổi Trong Phong Tục

Sự thay đổi trong lối sống và quan niệm về cái chết đã dẫn đến sự biến đổi trong các nghi lễ tang ma. Nhiều phong tục truyền thống đang dần bị thay thế bởi các hình thức hiện đại hơn.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Văn Hóa Tang Ma Của Người Nùng

Để nghiên cứu văn hóa tang ma của người Nùng Phàn Slình, các phương pháp nghiên cứu dân tộc học và nhân học tôn giáo được áp dụng. Việc tiếp xúc trực tiếp với cộng đồng và tham gia vào các nghi lễ là rất quan trọng để thu thập thông tin chính xác.

3.1. Phương Pháp Điền Dã

Điền dã là phương pháp chính trong nghiên cứu, cho phép thu thập thông tin từ thực tế. Qua việc tham gia vào các đám tang, nhà nghiên cứu có thể quan sát và ghi chép lại các nghi thức.

3.2. Phỏng Vấn Nhóm

Phỏng vấn nhóm giúp thu thập ý kiến và quan điểm của nhiều người trong cộng đồng, từ đó có cái nhìn tổng quát hơn về văn hóa tang ma.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghiên Cứu Văn Hóa Tang Ma

Nghiên cứu văn hóa tang ma của người Nùng Phàn Slình không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc bảo tồn văn hóa. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng để xây dựng các chính sách văn hóa phù hợp.

4.1. Bảo Tồn Các Giá Trị Văn Hóa

Nghiên cứu giúp nhận diện và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống trong tang ma, từ đó góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

4.2. Xây Dựng Chính Sách Văn Hóa

Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách văn hóa, nhằm hỗ trợ cộng đồng trong việc duy trì các phong tục tập quán.

V. Kết Luận Về Nghiên Cứu Văn Hóa Tang Ma Của Người Nùng

Nghiên cứu văn hóa tang ma của người Nùng Phàn Slình tại Thái Nguyên là một lĩnh vực quan trọng, cần được chú trọng hơn nữa. Việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống không chỉ giúp gìn giữ bản sắc dân tộc mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của cộng đồng.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu văn hóa tang ma cần tiếp tục được mở rộng và sâu sắc hơn, nhằm đáp ứng yêu cầu bảo tồn văn hóa trong bối cảnh hiện đại.

5.2. Khuyến Khích Nghiên Cứu Liên Ngành

Khuyến khích các nghiên cứu liên ngành để có cái nhìn toàn diện hơn về văn hóa tang ma, từ đó đưa ra các giải pháp hiệu quả.

22/06/2025
Tang ma của người nùng phàn slình ở tỉnh thái nguyên 6795645

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, những công trình công bố liên quan đến nội dung luận án, danh mục tài liệu tham khảo, danh sách nhân chứng cung cấp thông tin, phụ lục, luận án đƣợc bố cục thành 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Người Nùng Phàn Slình ở tỉnh Thái Nguyên và những quan niệm liên quan đến tang ma Chƣơng 3: Tang ma truyền thống Chƣơng 4: Sự biến đổi trong tang ma Chương 5: Tang ma của người Nùng Phàn Slình và việc xây dựng đời sống mới 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT Tang ma là một thành tố quan trọng trong đời sống con ngƣời, gắn liền với quan niệm, tín ngƣỡng và tôn giáo tộc ngƣời. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê-nin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam, các nghiên cứu dân tộc học, nhân học tôn giáo làm cơ sở lý thuyết nghiên cứu luận án.1 – Quan điểm Mác xít về tôn giáo, tín ngƣỡng Trong tác phẩm “Chống Đuy-rinh” (1878), Ph. Ăng-ghen chỉ rõ: “Bất cứ tôn giáo nào cũng chỉ là sự phản ánh hƣ ảo vào bộ óc ngƣời ta những sức mạnh hƣ ảo ở bên ngoài chi phối cuộc sống thƣờng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh mà sức mạnh thế gian mang hình thức siêu thế gian” 1[3, tr. Trong tác phẩm “Lút – Vích Phơ Bách và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức” (1886), Ph.

Ăng-ghen tiếp tục khẳng định: “Tôn giáo một khi đã xuất hiện bao giờ cũng giữ lại một số quan niệm nhất định do quá khứ để lại, cũng nhƣ là trong tất cả các lĩnh vực tƣ tƣởng, truyền thống, là một lực lượng bảo thủ rất lớn. Song những sự biến đổi xảy ra trong số quan niệm đó đều đƣợc phát sinh từ những mối quan hệ giai cấp, nghĩa là từ những mối quan hệ kinh tế giữa những ngƣời gây ra những sự biến đổi ấy”2[4, tr. Khi nói về tác hại của tôn giáo, tín ngƣỡng đối với cuộc sống con ngƣời, trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (1843 – 1844), C. Mác chỉ rõ: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị 1 Ph.

Ăng-ghen “Chống Duy-ring”, Nhà xuất bản Sự thật, năm 1984, tr. Ăng-ghen " Lut - Vich Pho Bach và sự cáo chung của nền triết học cổ điển Đức” Mác- Ăng-ghen tuyển tập, Tập 2, Nhà xuất bản Sự thật – 1962, tr. 652 7 áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng nhƣ nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần.Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [50, tr. Theo đó, tôn giáo là chất chỉ có tác dụng làm giảm đau cho con ngƣời, nhƣng không thể làm cho con ngƣời có cuộc sống hạnh phúc.

Muốn cho con ngƣời hạnh phúc là phải xoá tận gốc nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Hạt nhân của tôn giáo chính là niềm tin tôn giáo. Khi đã tin vào thực thể tự nhiên có thể ban phúc hay giáng hoạ, ngƣời ta phải thực hiện niềm tin bằng hành động thờ cúng, dâng lễ vật. Đây chính là vấn đề cốt lõi đảm bảo cho sự tồn tại của hành động thờ cúng trong tang ma của ngƣời Nùng Phàn Slình.

Nhƣ vậy, niềm tin của ngƣời Nùng Phàn Slình vào các lực lƣợng siêu nhiên, mang tính thiêng liêng, đƣợc chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hƣ ảo, thông qua hành lễ của đội ngũ thầy Tào và gia quyến. Cƣ dân Nùng Phàn Slình đã thực hiện hành vi tôn giáo với một hệ thống nghi lễ tang ma, báo hiếu hết sức chi tiết. Hành vi ấy nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng nhƣ con đƣờng dẫn linh hồn từ trần thế sang thế giới bên kia theo hệ thống quy tắc nhất định. Hành vi ấy có sự thay đổi, thêm bớt ở mỗi thời kỳ lịch sử, mỗi hoàn cảnh địa lý - văn hóa.

Đó là sự biểu đạt lòng thành kính, cầu xin đấng siêu nhiên, tổ tiên và linh hồn cha (mẹ) ban tặng sự bình an, thịnh vƣợng, an ủi ngƣời sống, làm giảm nỗi sợ hãi và sự đau buồn phải chia lìa ngƣời thân. Chính vì vậy, khi tiếp cận quan điểm về tôn giáo của chủ nghĩa Mác- Lê-nin, luận án sẽ có đƣợc những định hƣớng đúng khi đề xuất những giải pháp khắc phục những vấn đề còn tồn tại trong tang ma của ngƣời Nùng Phàn Slình hiện nay.2 - Quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng Đảng, Nhà nƣớc ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có các quan điểm chỉ đạo cụ thể về vấn đề tôn giáo, tín ngƣỡng. 8 Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với ngƣời theo tôn giáo thì đức tin tôn giáo và lòng yêu nƣớc không hề mâu thuẫn. Một ngƣời dân Việt Nam có thể vẫn là một ngƣời dân yêu nƣớc, đồng thời cũng vẫn là một tín đồ chân chính.

Với Ngƣời: Kính chúa gắn liền với yêu nƣớc, phụng sự nhân dân và phụng sự tổ quốc, nƣớc có vinh thì đạo mới sáng, nƣớc có độc lập thì tín ngƣỡng mới đƣợc tự do. Từ khi ra đời (1930) đến nay, các Nghị quyết của Đảng đều nhất quán bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng tôn giáo và không tín ngƣỡng tôn giáo của nhân dân. Nghị quyết đại hội VII (1992) của Đảng ghi rõ: Tín ngƣỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (4/2006) tiếp tục khẳng định: Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc.

Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân… Động viên giúp đỡ đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo sống “tốt đời, đẹp đạo”… Đấu tranh ngăn chặn các hoạt động mê tín dị đoan, các hành vi lợi dụng tín ngƣỡng tôn giáo làm phƣơng hại đến lợi ích chung của đất nƣớc, vi phạm quyền tự do tôn giáo của công dân”. Nhiều sắc lệnh, nghị quyết và nghị định đã được Chính phủ Việt Nam ban hành trong các thời kỳ đều bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng của nhân dân, nhƣ sắc lệnh số 234/SL ngày 14/6/1955, Nghị quyết số 297/CP ngày 11/11/1977 của Hội đồng chính phủ “Về một số chính sách đối với tôn giáo”, Nghị định 69/HĐBT, ngày 4/3/1991 “Về các hoạt động tôn giáo”, Nghị định số 26, ngày 19/4/1999 “Về các hoạt động tôn giáo”, Nghị định số 26 ngày 19/4/1999 “Về các hoạt động tôn giáo”. trong đó, Nghị quyết Trung ƣơng lần thứ bảy (khoá IX), số 25 – NQ/TW, ngày 12/3/2003 đã nêu rất rõ quan điểm của Đảng ta về công tác tôn giáo “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong 9 quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Nghị điịnh số 22/2005 NĐ/CP hƣớng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh tín ngƣỡng tôn giáo (2004)1 [78, tr.

Nhƣ vậy, Đảng, Nhà nƣớc Việt Nam luôn coi tín ngƣỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của nhân dân. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng ta cần thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng của công dân, động viên giúp đỡ đồng bào … sống “tốt đời, đẹp đạo”. Tiếp cận quan điểm này, luận án sẽ có những đề xuất những biện pháp đúng để bảo tồn, khai thác những giá trị văn hoá và giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong tang ma của ngƣời Nùng Phàn Slình ở tỉnh Thái Nguyên.3 – Quan điểm của giới khoa học về tôn giáo, tín ngƣỡng Trong số các chuyên gia hàng đầu của thế giới về tôn giáo học, có thể nêu tên giáo sƣ, tiến sĩ X.A Tocarev, nhà nghiên cứu tôn giáo nổi tiếng của Liên Xô thời Xô Viết.

Trong nhiều công trình về tôn giáo, tín ngƣỡng của ông, có một số công trình giúp ngƣời nghiên cứu có thể tham khảo khi xác định cơ sở lý luận của đề tài. Đó là công trình công bố năm 1979, đăng tải trên tạp chí Dân tộc học Xô Viết nhan đề: “Về tôn giáo nhƣ hiện tƣợng xã hội” (suy nghĩ của nhà dân tộc học)2 [68]. Để minh hoạ cho quan điểm của mình, tác giả đã cho công bố một loạt các bài nghiên cứu, trong đó có bài rất có giá trị về “Tập tục mai táng, ý nghĩa và nguồn gốc của chúng”, đăng trong “Tạp chí Tự nhiên”, năm 1985. Ý chính - Ban tôn giáo Chính phủ “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, Nhà xuất bản Hà 1 Nội, năm 2006 (tr.A Tocarev “Về tôn giáo như hiện tượng xã hội, suy nghĩ của nhà dân tộc học” (Tiếng Nga).

Tạp chí Dân tộc học Xô Viết, số 3, năm 1979 (Bản dịch của Giáo sư, tiến sỹ Phan Hữu Dật) 10 của tập tục mai táng, theo tác giả, là thiết lập mối quan hệ qua lại trần tục và thiêng liêng giữa các thế hệ, chính xác là giữa ngƣời sống và ngƣời chết1[69]. Trong tác phẩm Các hình thái tôn giáo sơ khai và sự phát triển của chúng, X.A Tocarev cũng coi ma chay là một trong những hình thái biểu hiện của tôn giáo sơ khai [67]. Theo ông, dấu hiệu của sự xuất hiện tôn giáo sớm nhất là vào thời kỳ cổ đại, biểu hiện của nó rất đơn giản nhƣ việc bôi màu lên da ngƣời chết, chôn cất ngƣời chết trong các tƣ thế không bình thƣờng, hoặc chôn công cụ, v. Trong số 15 loại hình tôn giáo nguyên thuỷ mà tác giả X.A Tocarev đã phân chia, chúng tôi chỉ tiếp cận một số loại hình: Ma thuật làm hại, ma chay, thờ cúng tổ tiên và đạo Shaman để nghiên cứu về tang ma của ngƣời Nùng Phàn Slình ở Thái Nguyên.

Tiếp cận loại hình Ma thuật làm hại, chúng tôi không xem xét quan điểm của X.A Tocarev khi quy mọi bệnh tật, chết chóc là do sự phù phép của con ngƣời ở giai đoạn tan rã của xã hội nguyên thuỷ. Chúng tôi chỉ quan tâm tới yếu tố ma thuật trong tang ma. Đó là các thầy phù thuỷ có khả năng dùng lời phù chú, phép thuật để giáng hoạ xuống con ngƣời, khiến ngƣời ta sợ hãi. Từ nghiên cứu đó, chúng tôi xem xét yếu tố ma thuật mà các thầy cúng ở những dòng họ khác nhau trong xã hội Nùng Phàn Slình sử dụng để đối phó với phép thuật của các dòng thầy khác trong quá trình thực hiện các nghi lễ tang ma.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Văn Hóa Tang Ma Của Người Nùng Phàn Slình Tại Thái Nguyên" mang đến cái nhìn sâu sắc về phong tục và nghi lễ tang ma của người Nùng, một dân tộc có nền văn hóa phong phú tại Việt Nam. Tài liệu không chỉ phân tích các nghi thức tang lễ mà còn khám phá ý nghĩa văn hóa và tâm linh của chúng trong đời sống cộng đồng. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ văn hóa tang ma không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn tạo ra sự kết nối giữa các thế hệ.

Để mở rộng thêm kiến thức về văn hóa của người Nùng, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn bài ca nghi lễ của người nùng ở hữu lũng lạng sơn, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về các bài ca nghi lễ, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về các phong tục tập quán của họ. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về văn hóa và truyền thống của người Nùng, từ đó làm phong phú thêm kiến thức của mình.